KINH TẾ ĐỊA PHƯƠNG KINH TẾ ĐỊA PHƯƠNG
Thành phố Hồ Chí Minh - Đầu tầu trong vùng kinh tế trọng điểm phía Nam

Đánh giá khái quát 30 năm xây dựng và phát triển thành phố Hồ Chí Minh, Đại hội Đảng bộ thành phố lần thứ VIII đã nhận định: “Quá trình xây dựng và phát triển thành phố 30 năm qua, đặc biệt là 20 năm đổi mới, tuy còn tiềm ẩn những nhân tố bất ổn trong xã hội, có những va vấp, khuyết điểm và yếu kém trong lãnh đạo, quản lý và tổ chức thực hiện, song thành tựu đạt được là to lớn, có ý nghĩa lịch sử”. Những thành tựu đó đã khẳng định sự đúng đắn của đường lối đổi mới của Đảng; đánh giá sự trưởng thành trong lãnh đạo, quản lý của Đảng bộ và chính quyền thành phố, sức mạnh to lớn của khối đại đoàn kết toàn dân, tạo tiền đề vững chắc cho bước phát triển cao hơn trong giai đoạn sau.

Có thể nói, sau 30 năm xây dựng và phát triển, thành phố Hồ Chí Minh ngày nay (tức là Sài Gòn - Chợ lớn - Gia Định trước đây) đã thực sự biến đổi về chất. Từ một thành phố tiêu thụ với các tệ nạn xã hội và thất nghiệp tràn lan; với cơ sở hạ tầng kỹ thuật chủ yếu phục vụ chiến tranh, đã trở thành một thành phố sản xuất - kinh doanh, cung cấp sản phẩm hàng hóa và dịch vụ quan trọng cho cả nước và xuất khẩu. Là một trung tâm kinh tế lớn của cả nước có GDP chiếm 13% năm 1985, 20% năm 2005 trong cơ cấu GDP của cả nước; thu ngân sách tăng 10 lần và chiếm tỷ trọng 1/3 tổng thu ngân sách quốc gia; giá trị sản xuất công gnhiệp chiếm tỷ trọng 30%, xuất khẩu chiếm tỷ trọng 40% của cả nước.

Trong giai đoạn 2001-2005, thành phố Hồ Chí Minh đã đạt nhiều thành tựu kinh tế. Kinh tế đạt tốc độ tăng trưởng cao; các nguồn nội lực được phát huy; các loại thị trường từng bước phát triển và mở rộng; cơ cấu kinh tế bước đầu chuyển dịch theo hướng hiệu quả hơn. Giai đoạn 2001-2005 thành phố đã đạt mục tiêu tăng trưởng đề ra, bình quân tăng 11%/năm, cao hơn tốc độ tăng 10,3%/năm của giai đoạn 1996-2000. Kinh tế chủ yếu dựa vào 2 khu vực công nghiệp và dịch vụ: khu công nghiệp - xây dựng bình quân 12,6%/năm (kế hoạch đề ra là 13%); khu vực dịch vụ tăng bình quân 9,9%/năm (kế haọch đề ra là 9,5%); khu vực nông nghiệp (bao gồm nông - lâm nghiệp và thủy sản) tăng bình quân 3,5%/năm (kế hoạch đề ra là 2%). Cơ cấu kinh tế thành phố chuyển dịch đúng định hướng, năm 2000: nông nghiệp 45,4%, dịch vụ 52,6%; đến năm 2005, nông nghiệp 1,2%, công nghiệp - xây dựng 48,2% và dịch vụ 50,6%.

Đầu tư phát triển khá và hiệu quả đầu tư được cải thiện. Tỷ lệ đầu tư trên tổng sản phẩm quốc nội (GDP) của thành phố trong giai đoạn 2001 - 2005 đạt bình quân 35%. Tốc độ tăng vốn đầu tư phát triển bình quân 15,5%/năm, số tuyệt đối đạt 200 nghìn tỷ đồng (khoảng 13 tỷ USD). Cơ cấu đầu tư vào các ngành kinh tế thành phố hiện nay và trong thời gian tới. Tỷ trọng đầu tư vào các ngành dịch vụ tăng nhanh và tỷ trọng đầu tư vào công nghiệp - xây dựng giảm xuống. Cơ cấu vốn đầu tư phát triển đã có sự thay đổi, những năm trước đây đầu tư từ vốn ngân sách và doanh nghiệp nhà nước chiếm tỷ trọng lớn nhất, nhưng trong 5 năm qua, vốn của khu vực dân doanh chiếm tỷ trọng cao nhất, chiếm 40% trong cơ cấu vốn đầu tư. So với cả nước vốn đầu tư của khu vực dân doanh là 26%, thì ở thành phố Hồ Chí Minh khu vực dân doanh có sự năng động hơn.

Câu đối thu - chi ngân sách được đảm bảo, thị trường tài chính - tiền tệ có bước phát triển. Thu ngân sách nhà nước trên địa bàn thành phố tăng bình quân 16,8%/năm, đóng góp 1/3 nguồn thu ngân sách cả nước. Cơ cấu thu ngân sách nhà nước đã từng bước vững chắc hơn, thu nội địa trở thành nguồn thu quan trọng và chủ yếu (tỷ trọng thu nội địa tăng từ 54,8% trong tổng thu ngân sách năm 2001 lên 60,9% năm 2005). Cơ cấu phân phối và sử dụng nguồn lực tài chính đã có nhiều chuyển biến tích cực theo hướng giảm các khoản chi bao cấp từ ngân sách, tăng dần tỷ lệ chi cho đầu tư phát triển, tập trung ưu tiên chi cho những nhiệm vụ phát triển kinh tế - xã hội quan trọng, những chương trình - công trình trọng điểm của thành phố và giải quyết những vấn đề xã hội bức xúc.

Thị trường tài chính - tiền tệ tiếp tục tăng trưởng cao, nhất là hoạt động tín dụng. Giai đoạn 2001 - 2005, vốn huy động tăng bình quân 37%/năm và dư nợ tín dụng tăng bình quân 41%/năm; tốc độ tăng trưởng dư nợ tín dụng cao hơn tăng trưởng vốn huy động, cho thấy chính sách điều hành vĩ mô hệ thống ngân hàng đã phát huy tác dụng. Hệ thống ngân hàng đã trở thành kênh huy động vốn chủ yếu cho nhu cầu đàu tư phát triển. Hoạt động dịch vụ ngân hàng ngày càng phát triển nhanh và đa dạng. Các hoạt động truyền thống như dịch vụ huy động vốn, thanh toán, kinh doanh ngoại hối, ngân quỹ ngày càng được hoàn thiện và phát triển với nhiều hình thức đa dạng, hấp dẫn. Các phương tiện thanh toán hiện đại như thẻ ngân hàng đã và đang phát triển rất mạnh, khối lượng thanh toán không dùng tiền mặt qua ngân hàng ngày càng cao.

Kinh tế đối ngoại tiếp tục tăng trưởng. Xuất khẩu tăng bình quân 14,2%/năm; tổng kim ngạch xuất khẩu đạt 42 tỷ USD (không kể dầu thô đạt 17,5 tỷ USD); xuất khẩu tính theo đầu người đạt hơn 1.900USD (năm 2005). Thị trường xuất khẩu được mở rộng, nhất là thị trường mới ở Bắc Mỹ, Châu Âu; trong đó, Mỹ đã trở thành thị trường xuất khẩu lớn nhất của thành phố vài năm gần đây; một số thị trường lớn khác như Xin-ga-po, Trung Quốc tương đối ổn định. Tỷ trọng sản phẩm công nghiệp (không kể dầu thô) trong cơ cấu hàng xuất khẩu khá cao và sản phẩm xuất khẩu ngày càng đa dạng, nhất là các sản phẩm công nghiệp chế biến (như điện - điện tử, phần mềm, gỗ, nhựa). Ngoài xuất khẩu hàng hóa, xuất khẩu dịch vụ của thành phố đã bước đầu khẳng định được vai trò ngày càng quan trọng đối với tăng trưởng kinh tế, loại hình dịch vụ xuất khẩu ngày càng đa dạng hơn như du lịch quốc tế, xuất khẩu lao động, đào tạo, y tế.

Kim ngạch nhập khẩu của thành phố tăng bình quân 12,2%/năm. Cơ cấu hàng nhập khẩu cho thấy nguyên - vật liệu và máy móc - thiết bị chiếm tỷ trọng lớn (gần 90%) và xu thế cơ cấu thị trường nhập khẩu có nhiều chuyển biến tích cực theo hướng giảm dần máy móc - thiết bị, phụ tùng từ các quốc gia trung gian để nhập khẩu trực tiếp từ những thị trường các nước phát triển, có trình độ công nghệ cao như Mỹ, Nhật, EU. Công tác xúc tiến thương mại ngày càng mang tính chuyên nghiệp hơn, bắt đầu đi vào chiều sâu, khai thác có trọng điểm theo chuyên đề, theo từng loại thị trường, hỗ trợ tích cực và hiệu quả hơn cho hoạt động xuất nhập khẩu.

Đầu tư trực tiếp của nước ngoài (FDI) trong những năm qua bước đầu có cải thiện với tổng vốn đăng ký đầu tư vào thành phố tăng từ 224 triệu USD năm 2000 lên 650 triệu USD năm 2005 và 6 tháng đầu năm 2006 đạt 1,2 tỷ USD (trong đó có dự án của Tập đoàn Intel 605triêu USD và dự án cảng container Hiệp Phước 300 triệu USD). Tính đến nay, trên địa bàn thành phố có 2.046 dự án đầu tư trực tiếp của nước ngoài với tổng vốn đăng ký 13,3 tỷ USD.

Môi trường kinh doanh và đầu tư được cải thiện; kinh tế dân doanh và kinh tế có vốn nước ngoài tiếp tục tăng trưởng khá. Các nỗ lực cải cách của trung ương và thành phố trong thời gian qua đã giúp cho môi trường kinh doanh và đầu tư của thành phố giai đoạn 2001 - 2005 có những bước theo hướng phù hợp hơn với đòi hỏi của thực tế và thông lệ quốc tế.

Thơi gian gần đây, khu vực kinh tế dân doanh trên địa bàn thành phố đã vượt qua khu vực đạt được tốc độ tăng trưởng cao nhất, đặc biệt là trong lĩnh vực phát  triển công nghiệp. Kinh tế dân doanh đã thật sự trở thành động lực tăng trưởng chính cho kinh tế thành phố. Năm 2005, kinh tế dân doanh tăng trưởng đạt 15,6%, kinh tế nhà nước 8,8% và đầu tư nước ngoài 12,3%. Trong tốc độ tăng trưởng kinh tế chung 12,2% năm 2005, khu vực kinh tế dân doanh đóng góp 6,9% (chiếm tỷ trọng 50,8% GDP), kinh tế nhà nước là 3,1% (chiếm tỷ trọng 33,9% GDP) và khu vực đầu tư nước ngoài 2,2% (chiếm tỷ trọng 21% GDP). Tính đến nay, trên địa bàn thành phố có trên 40 nghìn doanh nghiệp dân doanh (doanh nghiệp nhà nước có 700), 260 nghìn cơ sở, hộ sản xuất - kinh doanh đang hoạt động. Tổng vốn đăng ký của khu vực dân doanh đạt 650 nghìn tỷ đồng, tương đương 40 tỷ USD.

Trên lĩnh vực quản lý đô thị , đã hoàn thành quy hoạch chung về kinh tế - xã hội, quy hoạch tổng mặt bằng (năm 1998) và cũng đang tiến hành điều chỉnh; hoàn thành quy hoạch giao thông, quy hoạch các ngành văn hóa - xã hội, quy hoạch khu công nghiệp - khu chế xuất; đang hoàn thiện việc quy hoạch môi trường và quy hoạch kiến trúc đô thị.

Việc chỉnh trang và xây dựng đô thị mới đã đạt những kết quả tích cực, làm cho thành phố khang trang và trật tự hơn, các khu đô thị mới đang hình thành đáp ứng được các điều kiện về cơ sở hạ tầng kỹ thuật tương đối hiện đại, xanh, sạch, đẹp. Qũy nhà ở tăng nhanh, chủ yếu do nhân dân và các doanh nghiệp tự đầu tư; hình thành nhiều chung cư cao tầng với chất lượng tương đối cao, phù hợp với điều kiện sống của đô thị hiện đại. Giao thông đo thị được cải thiện, hiện tượng ùn tắc giao thông đã giảm, vận tải hành khách công cộng có bước tiến bộ; thực hiện trật tự - an toàn giao thông trên địa bàn thành phố có hiệu quả và tiếp tục chuyển biến khá hơn, tình hình giao thông trong giờ cao điểm đã cải thiện, hạn chế tình trạng kẹt xe, nhất là trên một số cầu, trục đường liên quận. Cấp điện, cấp nước, viễn thông, thu gom và xử lý chất thải...đáp ứng yêu cầu đại bộ phận nhân dân khu vực đô thị. Các hoạt động quản lý nhà nước về môi trường đã và đang góp phần làm chuyển biến chất lượng môi trường đô thị, từng vấn đề, từng khu vực có sự cải thiện, góp phần ngăn chặn sự xuống cấp về môi trường ở thành phố. Thông tin liên lạc được tăng cường, tổng số máy điện thoại cố định và di động trên địa bàn thành phố là 3,7 triệu số, mật dộ thuê bao đạt 46 máy/100 dân. Hệ thống internet có 5 nhà cung cấp 800 nghìn thuê bao bình thường và 50 nghìn thuê bao kết nối nhanh tốc độ cao.

Trên lĩnh vực xã hội, số lao động được giới thiệu việc làm, bình quân đạt 215.000 người/năm, vượt chỉ tiêu kế hoạch đề ra là 190.000 người/năm. Bình quân hàng năm có trên 70 nghìn người có việc làm mới từ các hoạt động kinh doanh, dịch vụ cá thể, kinh tế hộ gia đình. Những nỗ lực tích cực tạo việc làm mới trong thời gian qua đã góp phần giảm tỷ lệ thất nghiệp trên địa bàn thành phố từ 6,8% năm 2001 xuống còn 5,9% năm 2005.

Cùng với sự tăng trưởng kinh tế, đời sống nhân dân ngày càng được cải thiện. Nếu tính theo tỷ giá cố định quy đổi năm 1994 (1 USD  tương đương 7.500 VNĐ), thì GDP bình quân đầu người của thành phố năm 2001 là 1.460 USD; năm 2002 là 1.558USD; năm 2003 là 1.675 USD; năm 2004 là 1.800 USD và năm 2005 là 1.920 USD. Chương tình xóa đói giảm nghèo đã đạt được nhữgn kết quả rất tích cực. Về cơ bản, đến cuối năm 2003, thành phố đã không còn hộ nghèo theo tiêu chí của thành phố ( thu nhập 3 triệu đồng người/năm đối với nội thành và 2,5 triệu đồng người/năm đối với ngoại thành). Từ những kết quả trên khoảng cách thu nhập giữa  nhóm dân có thu nhập cao nhất và thấp nhất trên địa bàn thành phố là 6,2 lần (cả nước là 8,34 lần).

Ngành y tế đã đạt được những thành tựu đáng kể, chất lượng khám, chữa bệnh ngày càng được nâng cao, công tác xã hội hóa y tế đã đạt những kết quả khả quan, công tác chăm sóc sức khỏe cộng đồng ngày càng phát triển sâu rộng, chất lượng chuyên môn ngày càng tăng, mạng lưới y tế cơ sở tiếp tục được củng cố và phát triển.

Để hoàn thành mục tiêu phổ cập giáo dục trung học cơ sở năm 2002. Đang tiến hành phổ cập giáo dục phổ rthông trung học, đến nay đã có 9/24 quận - huyện đạt chuẩn phổ cập giáo dục phổ thông trung học. Năm 2005, tỷ lệ học sinh đi học đúng độ tuổi cấp trung học cơ sở ước đạt 86,4% và phổ thông trung học ước đạt 53,6%. Thực hiện chủ trương xã hội hóa giáo dục - đào tạo thành phố đã khuyến khích, tạo điều kiện để các thành phần kinh tế cùng tham gia đầu tư mới cơ sở dạy nghề. Tỷ lệ cơ sở dạy nghề ngoài công lập thành lập mới trong 5 năm chiếm khoảng 70% tổng số cơ sở dạy nghề thành lập mới trong cùng thời kỳ. Sự phát triển của hệ thống đào tạo dạy nghề này đã giúp nâng dần tỷ lệ lao động qua đào tạo và đào tạo nghề từ mức 27,4% năm 2001 lên đến 40% năm 2005.

Khoa học và công nghệ được đẩy mạnh nghiên cứu ứng dụng, chuyển giao phục vụ phát triển kinh tế như công nghệ thông tin, sinh học, cơ khí - tự động, vật liệu mới. Trong đó, công nghệ thông tin đã có bước phát triển đáng kể, năm 2005 tăng gấp 9 lần so với năm 2000, góp phần tăng trưởng kinh tế, đổi mới quản lý trên các lĩnh vực. Sự gắn kết giữa khoa học với quá trình phát triển kinh tế - xã hội đã có bước tiến bộ mới, tỷ lệ ứng dụng kết quả nghiên cứu khoa học ngày càng tăng (đạt khoảng 60% - 80%).

Đời sống văn hóa của nhân dân thành phố từng bước được nâng lên, có những tiến bộ mới. Các nhiệm vụ phát triển văn hóa được gắn với các phong trào, chương trình hành động trên các lĩnh vực của đời sống xã hội; những giá trị văn hóa tốt đẹp như tinh thần nhân ái, làm việc nghĩa, giúp đỡ người nghèo, năng động, sáng tạo... được phát huy.

Thành phố là một trong những địa phương đi đầu trong cả nước về thực hiện cải cách hành chính. Từ năm 2001 đến nay thành phố đang thực hiện Chương trình tổng thể cải cách hành chính giai đoạn 2001 - 2010, gồm 4 nội dung: 1) Cải cách thể chế và thủ tục hành chính; 2) Cải cách tổ chức, bộ máy; 3) Xây dựng và phát triển đội ngũ cán bộ, công chức; 4) Cải cách tài chính công. Các chương trình này đã thu hút được những kết quả ban đầu và được sự ủng hộ đồng tình rộng rãi của công chúng, nhất là từ phía các doanh nghiệp. Cơ chế hành chính “một cửa, một dấu” ở các quận - huyện và “một cửa” ở một số sở - ngành tiếp tục được củng cố và hoàn thiện. Việc khoán biên chế và kinh phí quản lý hành chính ở các đơn vị có hiệu quả, qua đó góp phần động viên cán bộ, công chức gắn bó với công việc hơn. Việc ứng dụng công nghệ thông tin và ISO trong quản lý hành chính nhà nước và phục vụ nhân dân được các ngành, các cấp quan tâm thực hiện; việc tách dịch vụ công, hành chính công ở các đơn vị được chọn làm thí điểm bước đầu có kết quả.

Nhận thức được vị trí quan trọng của địa bàn trọng điểm về quốc phòng - an ninh, Đảng bộ và chính quyền thành phố đã không ngừng củng cố, xây dựng các lực lượng vũ trang nhân dân, đầu tư phương tiện để sẵn sàng chiến đấu; đồng thời , tăng cường giáo dục, nâng cao ý thức cảnh giác trong toàn Đảng bộ, toàn dân, toàn quân trước những âm mưu và thủ đoạn chống phá của các thế lực thù địch. Do đó, thành phố đã giữ được ổn định chính trị và an toàn xã hội, góp phần quan trọng vào tăng trưởng kinh tế và đảm bảo đời sống của nhân dân.

Cũng trong thời gian qua, thành phố đã phát huy tốt vai trò đầu tầu trong vùng kinh tế trọng điểm phía nam. Vùng kinh tế trọng điểm phía nam bao gồm thành phố Hồ Chí Minh, các tỉnh Bình Dương, Đồng Nai, Bà Rịa - Vũng Tàu, có diện tích tự nhiên trên 12,6 nghìn km2, dân số 9,2 triệu người (số liệu năm 2002). Và theo chỉ đạo của Chính phủ, Vùng kinh tế trọng điểm phía nam mở rộng thêm 4 tỉnh là Bình Phước, Tây Ninh, Long An và Tiền Giang, như vậy có tổng cộng 8 tỉnh, thành phố trong vùng này.

Đối với Vùng kinh tế trọng điểm phía nam, chương trình hợp tác của thành phố Hồ Chí Minh với các tỉnh bạn tiếp tục được tăng cường, đến nay thành phố Hồ Chí Minh đã ký kết hợp tác với tất cả 7 tỉnh trong vùng. Và nếu tính cả nước thì Thành phố Hồ Chí Minh đã ký kết hợp tác với 25 tỉnh, thành phố. Qua đó, đã thu hút được trên 200 doanh nghiệp thành phố thực hiện đầu tư tại các địa phương với 250 dự án đang triển khai có tổng vốn đầu tư 9.200 tỷ đồng. Sự hợp tác ngày càng toàn diện, sâu rộng với các tỉnh, thành phố và Nam Tây Nguyên đã có ý nghĩa thiết thực đối với thành phố không chỉ về phát triển kinh tế mà còn góp phần thực hiện “chương trình mục tiêu 3 giảm ma túy, tội phạm và mại dâm”, các tỉnh cấp đất cho thành phố xây dựng 14 trung tâm để quản lý tập trung các đối tượng tệ nạn xã hội, chữa trị bệnh, cai nghiện, giáo dục, dạy nghề và giải quyết việc làm, xây dựng các khu tái định cư; thành phố đã góp phần cùng các tỉnh đầu tư hệ thống đường giao thông, thủy điện, bệnh viện, trường học.v.v..

Mặc dù đã đạt được những thành tựu rất khả quan trên các lĩnh vực, nhưng thành phố cũng đang đứng trước một số vấn đề đặt ra trong quá trình phát triển, cần phải giải quyết như:

- Về lĩnh vực kinh tế: chất lượng tăng trưởng, phát triển và hiệu quả nền kinh tế còn thấp, năng lực cạnh tranh chưa cao. Chuyển dịch cơ cấu nội bộ các ngành kinh tế còn chậm, tác dụng của các giải pháp, biện pháp hỗ trợ nhằm chuyển dịch cơ cấu kinh tế trong công nghiệp và dịch vụ còn hạn chế. Môi trường kinh doanh và đầu tư chưa đủ sức hấp dẫn để thu hút các nhà đầu tư lớn trong nước và nước ngoài. Hoạt động kinh tế đối ngoại chưa tương xứng tiềm năng và thế mạnh của thành phố.

- Về lĩnh vực đô thị: Hạ tầng kỹ thuật và xã hội chưa đáp ứng yêu cầu phát triển kinh tế và cải thiện dân sinh; quy hoạch và quản lý đô thị còn nhiều yếu kém; ô nhiễm môi trường chậm được khắc phục.

- Về quản lý nhà nước và cải cách hành chính kết quả đạt được còn hạn chế. Các thủ tục hành chính vẫn còn rườm rà, gây khó khăn cho công dân và doanh nghiệp. Phẩm chất và năng lực của một bộ phận cán bộ, công chức còn hạn chế, chưa đáp ứng yêu cầu phát triển của thành phố. Tình trạng quan liêu, cửa quyền, thiếu trách nhiệm còn khá phổ biến trong các cơ quan công quyền; chưa có sự chuyển biến đáng kể trong lề lối làm việc của một số cơ quan nhà nước; tiêu cực, nhũng nhiễu đã gây cản trở cho hoạt động kinh doanh chân chính của doanh nghiệp, làm giảm khả năng cạnh tranh của doanh nghiệp trên thương trường trong và ngoài nước.

Trên cơ sở nhận định tình hình và bối cảnh chung của cả nước và tác động của tình hình kinh tế thế giới, dự báo những cơ hội, thách thức khi Việt Nam trở thành thành viên của Tổ chức Thương mại thế giới - WTO; đặc biệt là căn cứ vào Nghị quyết 20/NQ-TW của Bộ Chính trị về phương hướng, nhiệm vụ phát triển thành phố đến năm 2010, thành phố đã xây dựng mục tiêu, nhiệm vụ phát triển kinh tế - xã hội đến năm 2010 với một số nội dung chủ yếu sau:

1. Mục tiêu tổng quát

Thành phố phải tăng tốc phát triển và chủ động hội nhập kinh tế thế giới với mục tiêu tổng quát trong 5 năm 2006-2010 là: đổi mới toàn diện và mạnh mẽ hơn nữa; phát huy dân chủ và sức mạnh của khối đại đoàn kết toàn dân, động viên mọi nguồn lực, nắm bắt thời cơ, vượt qua thách thức, chủ động hội nhập kinh tế khu vực và quốc tế; thúc đẩy tăng trưởng kinh tế nhanh, hiệu quả và bền vững, không ngừng nâng cao đời sống nhân dân; giữ vững ổn định chính trị - xã hội; xây dựng thành phố Hồ Chí Minh ngày càng văn minh, hiện đại, từng bước trở thành một trung tâm công nghiệp, dịch vụ, khoa học - công nghệ của khu vực Đông - Nam Á; góp phần quan trọng vào sự nghiệp đổi mới, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam XHCN.

2. Các chỉ tiêu chủ yếu

- Về kinh tế: tốc độ tăng trưởng tổng sản phẩm trong nước (GDP) trên địa bàn thành phố bình quân 12%/năm; cơ cấu kinh tế đến năm 2010: nông nghiệp chiếm tỷ trọng 0,9%, công nghiệp - xây dựng 48,5% và dịch vụ 50,6% (chấm dứt được xu hướng giảm tỷ trọng khu vực dịch vụ trong cơ cấu GDP trong suốt 10năm qua); tổng vốn đầu tư xã hội 5 năm trên địa bàn 434.500 tỷ đồng (tương đương khoảng 27,2 tỷ USD); tổng thu ngân sách nhà nước trên địa bàn tăng 62,89% so với giai đoạn 2001-2005, trong đó, thu nội địa tăng 88,34%, tổng chi ngân sách địa phương tăng 44, 29%.

- Về xã hội: kiểm soát tốc độ tăng dân số thành phố trung bình dưới 3,4%/năm (trong đó tăng tự nhiên 1,1% và tăng cơ học 2,3%); tạo việc làm mới trung bình là 100 nghìn chỗ làm/năm; giải quyết việc làm cho 230 nghìn lượt lao động/năm; giảm tỷ lệ thất nghiệp còn dưới 5% vào năm 2010; chuyển dịch cơ cấu lao động theo hướng tăng tỷ lệ lao động kỹ thuật (đã qua đào tạo nghề) lên 55% vào năm 2010 trên tổng số lao động làm việc trên địa bàn; mức chuẩn nghèo là 6 triệu đồng/người/năm; đến năm 2010, về cơ bản, không còn hộ nghèo theo tiêu chí này; về y tế, đạt tỷ lệ 10 bác sĩ/10 nghìn dân, số giường bệnh 40 giường/10 nghìn dân; về giáo dục, hoàn thiện quy hoạch phát triển hệ thống các loại hình giáo dục - đào tạo, cân đối phù hợp giữa trường công và trường tư theo tỷ lệ trường tư như sau: mầm non: đại bộ phận, tiểu học: 10-15%, trung học cơ sở: 25%, trung học phổ thông: 50%. Hoàn thành phổ cập bậc trung học phổ thông vào năm 2008.

- Về môi trường và đô thị: giảm thiểu tối đa ô nhiễm nước, không khí, tiếng ồn, chất thải công nghiệp độc hại, thu gom, vận chuyển và xử lý 100% tổng khối lượng rác thải vào năm 2008, trên 40% khu vực đô thị có hệ thống xử lý nước thải tập trung đạt tiêu chuẩn môi trường vào năm 2010; vận tải hành chính công cộng đạt mức 1,8 triệu khách/ngày, đáp ứng 10% nhu cầu đi lại vào năm 2010; xây dựng mới 6 triệu m2 nhà ở mỗi năm, đạt mức bình quân nhà ở 14m2/người vào năm 2010; tổng cộng suất cấp nước sạch 1.800.000 m3/ngày đêm vào năm 2010; tập trung xây dựng môi trường văn hóa - xã hội lành mạnh, nếp sống văn minh đô thị, tôn trọng pháp luật, kỷ cương, tác phong công nghiệp.

- Quán triệt tinh thần Nghị quyết Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VIII, toàn thể cán bộ, đảng viên và nhân dân thành phố Hồ Chí Minh đang ra sức phấn đấu thực hiện các mục tiêu nhiệm vụ kinht ế - xã hội đến năm 2010 nhằm đạt tốc độ tăng trưởng kinh tế nhanh và bền vững, văn hóa - xã hội phát triển lành mạnh, an ninh - quốc phòng được giữ vững, xứng đáng với vị trí, vai trò là trung tâm lớn về kinh tế - văn hóa của cả nước, là đầu tầu trong Vùng kinh tế trọng điểm phía nam.

 

Biên tập và tổng hợp từ nguồn "Tạp chí Lý luận chính trị tháng 09/2006"

(8277 Lượt xem)

CÁC TIN BÀI KHÁC:
Ngôn ngữ Ngôn ngữ
English (United States) Tiếng Việt (Việt Nam)
Hoạt động nghiên cứu khoa học Hoạt động nghiên cứu khoa học
Tin hoạt động khoa học tháng 12 năm 2018 (22/1/2019)

Tin hoạt động khoa học tháng 11 năm 2018 (12/12/2018)

Tin hoạt động khoa học tháng 10 năm 2018 (8/11/2018)


Số lượt truy cập Số lượt truy cập
19072429