KINH TẾ ĐỊA PHƯƠNG KINH TẾ ĐỊA PHƯƠNG
Chuyển dịch cơ cấu kinh tế ngoại thành Thành phố Hồ Chí Minh - Định hướng phát triển giáo dục ngoại thành TPHCM đến năm 2010

1.Cơ sở lý luận và thực tiễn định hướng phát triển giáo dục phổ thông

Trong định hướng chung phát triển đất nước Việt Nam trở thành nước công nghiệp vào năm 2020, thành phố Hồ Chí Minh-Sài Gòn phải "đi trước về trước" vào năm 2015 (Tổng Bí thư Lê Khả Phiêu). Trong quá trình phát triển ấy điều kiện sinh hoạt, cuộc sống xã hội sẽ đổi thay theo hướng phát triển công nghiệp và dịch vụ ; thời gian lao động sẽ không còn lệ thuộc vào ngày đêm, thời tiết mà sẽ tùy thuộc vào điều kiện giao thông đi lại và điều kiện sản xuất dịch vụ của từng ngành nghề; người lao động phải có trình độ khoa học kỹ thuật và tác phong công nghiệp cao.

Nghị quyết Ðại hội Ðảng toàn quốc lần thứ IX xác định nhiệm vụ của sự nghiệp Giáo dục-Ðào tạo trong giai đoạn phát triển mới của đất nước là đào tạo những con người vừa hồng vừa chuyên, có nhân cách, yêu nước Việt Nam XHCN nồng nàn, có năng lực chuyên môn, có trình độ khoa học kỹ thuật phục vụ công cuộc công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, phát huy tốt truyền thống dân tộc trong đấu tranh và trong xây dựng, có sức khoẻ và đời sống tinh thần phong phú, giữ gìn và phát huy bản sắc văn hóa dân tộc.

Chỉ thị 14/2001/CT-TTg của Thủ tướng chính phủ ngày 11/6/2001 về việc đổi mới chương trình phổ thông thực hiện Nghị quyết số 40/2001/QH10 đã nêu mục tiêu của việc đổi mới chương trình và sách giáo khoa phổ thông là:

Nâng cao chất lượng giáo dục toàn diện, tăng cường bồi dưỡng cho thế hệ trẻ lòng yêu nước, yêu quê hương và gia đình; tinh thần tự tôn dân tộc, lý luận xã hội chủ nghĩa; lòng nhân ái, ý thức tôn trọng pháp luật; tinh thần hiếu học chí tiến thủ lập thân, lập nghiệp.

Ðổi mới phương pháp dạy và học, phát huy tư duy sáng tạo và năng lực tự học của học sinh.

Tiếp cận trình độ giáo dục phổ thông ở các nước trong khu vực và trên thế giới.

Tạo điều kiện thuận lợi cho việc tổ chức phân lường sau trung học cơ sở và trung học phổ thông, chuẩn bị tốt cho học sinh học tập tiếp tục ở bậc sau trung học hoặc tham gia lao động ngoài xã hội.

Chiến lược phát triển giáo dục 2001-2010 đã được Thủ tướng chính phủ phê duyệt (Quyết định số 201/2001/QÐ-TTg ngày 28/12/2001) xác định mục tiêu chung phát triển giáo dục đến năm 2010 là:

Tạo bước chuyển biến cơ bản về chất lượng giáo dục theo hướng tiếp cận với trình độ tiên tiến của thế giới, phù hợp với thực tiễn Việt Nam, phục vụ thiết thực cho sự phát triển kinh tế- xã hội của đất nước; của từng vùng, từng địa phương; hướng tới xã hội học tập. Phấn đấu đưa nền giáo dục nước ta thoát khỏi tình trạng lạc hậu trên một số lĩnh vực so với các nước phát triển trong khu vực.

Ưu tiên nâng cao chất lượng đào tạo nhân lực, đặc biệt coi trọng nhân lực khoa học-công nghệ trình độ cao, cán bộ quản lý, kinh doanh giỏi và công nhân kỹ thuật lành nghề trực tiếp góp phần nâng cao sức cạnh tranh của nền kinh tế; củng cố kết quả phổ cập giáo dục trung học cơ sở.

Ðổi mới mục tiêu, nội dung, phương pháp, chương trình giáo dục các cấp bậc học và trình độ đào tạo; phát triển đội ngũ nhà giáo đáp ứng yêu cầu vừa tăng quy mô, vừa nâng cao chất lượng, hiệu quả và đổi mới phương pháp dạy-học; đổi mới quản lý giáo dục tạo cơ sở pháp lý và phát huy nội lực phát triển giáo dục.

Chiến lược cũng nêu rõ: Thực hiện công bằng xã hội trong giáo dục và tạo cơ hội học tập ngày càng tốt hơn cho các tầng lớp nhân dân, đặc biệt là ở các vùng còn nhiều khó khăn.

Giáo dục mầm non: Nâng cao chất lượng chăm sóc giáo dục trẻ trước 6 tuổi, tạo cơ sở để trẻ phát triển toàn diện về thể chất, tình cảm, trí tuệ, thẩm mỹ; mở rộng hệ thống trường lớp mẫu giáo trên mọi địa bàn dân cư, đặc biệt ở vùng nông thôn và những vùng khó khăn; tăng cường các hoạt động phổ biến kiến thức và tư vấn nuôi dạy trẻ cho các gia đình.

Giáo dục phổ thông: Thực hiện giáo dục toàn diện về đức, trí, thể, mỹ. Cung cấp học vấn phổ thông cơ bản, hệ thống và có tính hướng nghiệp; tiếp cận trình độ các nước phát triển trong khu vực. Xây dựng thái độ học tập đúng đắn, phương pháp học tập chủ động, tích cực, sáng tạo; lòng ham học, ham hiểu biết, năng lực tự học, năng lực vận dụng kiến thức vào cuộc sống.

+ Tiểu học: phát triển những đặc tính tự nhiên tốt đẹp của trẻ em, hình thành ở học sinh lòng ham hiểu biết và những đức tính, kỹ năng cơ bản đầu tiên để tạo hứng thú học tập và học tập tốt. Củng cố và nâng cao thành quả phổ cập giáo dục tiểu học trong cả nước.. .

+ Trung học cơ sở: Cung cấp cho học sinh học vấn phổ thông cơ sở và những hiểu biết ban đầu về kỹ thuật và hướng nghiệp để thực hiện phân luồng sau trung học cơ sở, tạo điều kiện để học sinh tiếp tục học tập hoặc đi vào cuộc sống lao động.

+ Trung học phổ thông: Thực hiện chương trình phân ban hợp lý nhằm đảm bảo cho học sinh có học vấn phổ thông, cơ bản theo một chuẩn thống nhất, đồng thời tạo điều kiện cho sự phát huy năng lực của mỗi học sinh, giúp học sinh có những hiểu biết về kỹ thuật, chú trọng hướng nghiệp để tạo điều kiện thuận lợi cho việc phân luồng sau trung học phổ thông, để học sinh vào đời hoặc chọn ngành nghề học tiếp sau khi tốt nghiệp.

Thực trạng giáo dục phổ thông thành phố Hồ Chí Minh nói chung và ngoại thành nói riêng cho thấy đã có sự phát triển khích lệ về trường lớp, về điều kiện học tập của con em nhân dân, nhưng vẫn còn lúng túng chưa thể hiện được mô hình nhà trường cách mạng, chưa xây dựng được một cơ chế vận hành theo lý luận Mác Lê-nin, về quy luật nhận thức và tư tưởng Hồ Chí Minh "học phải đi đôi với hành, nhà trường phải gắn liền với xã hội".

Sự lúng túng lớn nhất của nhà trường phổ thông ở ngoại thành hiện nay vẫn là chưa thoát ra khỏi phương thức dạy học "thầy đọc trò chép", lý thuyết từ chương áp đặt một chiều từ nguời dạy, học sinh thụ động máy móc thuộc lòng, rất ít có điều kiện thực hành, vận dụng, trao đổi, phân tích, kỹ năng làm bài tập yếu.

Sự lúng túng ấy bắt nguồn từ cơ chế vận hành theo một hệ thống đào tạo lâu đời thể hiện qua cách trình bày sách giáo khoa, qua chế độ đánh giá và phương thức thi cử, kiểm tra thuộc lòng, đánh đố từ chương; qua cách tổ chức quản lý, sĩ số quá nhiều trong một lớp, qua việc học sinh chỉ có một buổi hoạt động trong nhà trường. Chuẩn kiến thức của cấp học, bậc học đòi hỏi phải phấn đấu ngang tầm với thế giới, nhưng điều kiện học tập (học lý thuyết, tập thực hành) của học sinh nước ta chỉ bằng 60% so với thời gian học tập ở trường của học sinh các nước tiên tiến. Phương tiện học tập đơn thuần là âm thanh diễn giải của thầy cô và phấn trắng bảng đen truyền thống rất khó có điều kiện cho học sinh thực hành và rèn luyện. Các điều kiện phục vụ việc dạy-học của các trường phổ thông chỉ đủ để giáo viên truyền thụ theo phương pháp truyền thống, chưa đủ rèn luyện thể chất, phát triển óc thẩm mỹ của học sinh. Trình độ chuyên môn nghiệp vụ của giáo viên, thời gian và kiến thức bồi dưỡng cho giáo viên ngoại thành chưa đủ để thực hiện các mục tiêu giáo dục mới. Trình độ và kinh nghiệm quản lý của lực lượng cán bộ quản lý chưa đủ đổi để mới giáo dục trong giai đoạn mới. Sự hỗ trợ của nhân dân trong thời gian qua rất hiệu quả và đáng trân trọng nhưng cần được tập hợp một cách hiệu quả hơn.

Năm học 2002-2003 cả nước triển khai đổi mới chương trình phổ thông, trước hết là lớp 1 và lớp 6; thành phố có những chuẩn bị thật chu đáo từ khâu tập huấn cán bộ quản lý, giáo viên đến đầu tư trang thiết bị. Chương trình và sách giáo khoa mới đã biến đổi về chất nội dung truyền đạt của bài giảng, đổi mới phương pháp giảng dạy của thầy và phương pháp học tập của học sinh; tăng cường khâu thực hành giảm dần lý thuyết từ chương, phát huy tính chủ động tích cực của học sinh. Qua đó rút ngắn khoảng cách hưởng thụ giáo dục-đào tạo giữa nội và ngoại thành. Tuy nhiên khi các trường ở nội thành tích cực tìm tòi các biện pháp tích cực trong đó có biện pháp sử dụng các thiết bị hiện đại, ứng dụng công nghệ thông tin và truyền thông vào các mặt hoạt động trong nhà trường thì các huyện ngoại thành còn bận rộn với việc dạy học bằng phương pháp truyền thống. Ðây là một thực trạng cần suy nghĩ và có biện pháp khắc phục.

2. Định hướng phát triển GD-ĐT đến năm 2010 và những tiêu chí thực hiện đến năm 2005       

Ðể phát triển giáo dục phổ thông đáp ứng yêu cầu mục tiêu đào tạo, mô hình nhà trường phổ thông phải đảm bảo các yếu tố căn bản là:

2.1. Gắn lý thuyết với thực hành, phải tạo điều kiện tốt nhất để học sinh được thực hành vận dụng những kiến thức được học tập vào thực tế.

2.2. Phát huy tính tích cực của học sinh, hướng dẫn, tổ chức và theo dõi từng học sinh, từng nhóm học sinh học tập trong tinh thần tích cực, thái độ chủ động, không gò ép áp đặt. Dạy để học sinh hiểu thay vì để biết như hiện nay qua đó giúp các em sự ham thích tìm hiểu thêm kiến thức mới và vận dụng vào thực tế.

2.3. Ðảm bảo những điều kiện về trang thiết bị, các điều kiện về môi trường để nâng cao hiệu quả giáo dục toàn diện cho học sinh từ đạo đức, tri thức đến thể chất và thẩm mỹ. Ðịnh hướng nghề nghiệp cho học sinh .

Các yếu tố căn bản vừa nêu trên nhằm thực hiện mục tiêu giáo dục của trường phổ thông tại ngoại thành thành phố Hồ Chí Minh trong giai đoạn từ nay đến 2010 là:

Ðảm bảo kiến thức chuẩn được qui định bởi chương trình, nắm được kiến thức cơ bản, kết hợp học với hành.

Trình độ Tiếng nước ngoài đủ để giao tiếp phổ thông và đọc hiểu được những thông tin trên các phương tiện truyền thông.

Sử dụng thành thạo máy tính để thực hiện những công việc văn phòng bình thường, biết giao tiếp bằng mạng máy tính toàn cầu (Internet) để truy cập thông tin, trao đổi thông tin và ứng dụng hỗ trợ việc học kiến thức cơ bản.

Tự lực giải quyết những việc cá nhân và có những kĩ năng sinh hoạt tập thể.

Sức khỏe đảm bảo, thể lực tốt và chơi khá tốt ít nhất một môn thể thao dành cho lứa tuổi các em (bóng đá, bóng chuyền, cầu lông, bóng bàn, bóng ném, bóng nước, bơi lội, cờ vua, . . .)

Phát triển và hoàn thiện nhân cách, có đạo đức tốt và lối sống lành mạnh, năng động, ham thích tham gia công tác xã hội, tuân thủ nghiêm túc pháp luật.

Nhận thức tốt quan hệ xã hội, có thế giới quan và nhân sinh quan đúng đắn. Không thực dụng nhưng thực tế. Có nhận thức và hiểu biết tốt về các lãnh vực của xã hội và đời sống.

Ðược định hướng nghề nghiệp tốt thông qua việc học tốt môn Công nghệ (theo chương trình kĩ thuật chính khóa: Công nghệ, Kĩ thuật Nông nghiệp hoặc Kĩ thuật Dịch vụ).

Học sinh sau khi tốt nghiệp có được những tri thức phổ thông đủ để giúp các em theo học một ngành nghề hoặc tiếp tục học lên cấp học cao hơn, các em cũng có thể tham gia lực lượng lao động của xã hội.

Ðịnh hướng trên xác định mô hình nhà trường phổ thông là học sinh hoạt động cả ngày trong trường (2 buổi/ngày) với đầy đủ có các điều kiện về sân bãi tập luyện, các phòng thực hành ngoại khóa, thư viện, trang thiết bị-phòng học bộ môn.

 

Trích đề tài “Chuyển dịch cơ cấu kinh tế ngoại thành thành phố Hồ Chí Minh thực trạng và giải pháp” - Sở Khoa học và Công nghệ - 7/2005

 

(1417 Lượt xem)

CÁC TIN BÀI KHÁC:
Ngôn ngữ Ngôn ngữ
English (United States) Tiếng Việt (Việt Nam)
Hoạt động nghiên cứu khoa học Hoạt động nghiên cứu khoa học
Tin hoạt động khoa học tháng 12 năm 2018 (22/1/2019)

Tin hoạt động khoa học tháng 11 năm 2018 (12/12/2018)

Tin hoạt động khoa học tháng 10 năm 2018 (8/11/2018)


Số lượt truy cập Số lượt truy cập
19072254