TÀI CHÍNH - NGÂN HÀNG - ĐẦU TƯ TÀI CHÍNH - NGÂN HÀNG - ĐẦU TƯ
Ngân hàng thương mại Việt Nam - Cơ hội “hoá rồng” trong cuộc vượt vũ môn của hội nhập

Ngành Ngân hàng, đặc biệt là các ngân hàng thương mại (NHTM), đạt được nhiều thành công qua 20 năm đổi mới, nhất là những năm gần đây. Trong xu thế thu hút vốn đầu tư ngày càng mạnh ở Việt Nam, ngân hàng là một trong những hình thức thu hút vốn đầu tư gián tiếp có hiệu quả từ nước ngoài. Sự phát triển của các thị trường tài chính, nhất là thị trường chứng khoán có sự góp sức khá mạnh của hệ thống ngân hàng ở tất cả các góc độ. Từ ngày 1/4/2007, theo cam kết gia nhập WTO, các NHTM nước ngoài được thành lập ngân hàng 100% vốn nước ngoài ở Việt Nam. Các NHTM Việt Nam thực sự đứng trước thách thức lớn về cạnh tranh, được mất ngay tại Việt Nam.

1. Thành quả

Cuối năm 2006, Việt Nam có 5 ngân hàng thương mại Nhà nước (NHTMNN), 34 ngân hàng thương mại cổ phần (NHTMCP) (trong đó 4 NHTMCP nông thôn; vào thời điểm cao nhất, có 50 NHTMCP, và theo quy định của NHNN, các NHTMCP nông thôn phải chuyển thành NHTMCP đô thị), 35 chi nhánh ngân hàng nước ngoài, 5 ngân hàng liên doanh với nước ngoài, 11 công ty cho thuê tài chính (trong đó có 4 công ty liên doanh cho thuê tài chính), 7 công ty tài chính (trong đó có 1 công ty cho thuê tài chính 100% vốn nước ngoài).

Các NHTMCP: Chúng ta chứng kiến sự đảo chiều khá ngoạn mục về phía các NHTMCP từ năm 2006 cho đến nay, chứng minh sức sống và phát triển của loại hình ngân hàng này. Sự phát triển ngoạn mục này thể hiện ở nhiều khía cạnh:

- Vốn chủ sở hữu tăng lên nhanh chóng: đến cuối năm 2005, vốn điều lệ bình quân của các NHTM là 800 tỷ đồng, nhiều NHTMCP có vốn điều lệ cao như Sacombank (2.089 tỷ đồng; ACB 1.100 tỷ đồng; Phương Nam 1.290 tỷ đồng; Techcombank 1.500 tỷ đồng; Eximbank 1.206 tỷ đồng; Đông á 880 tỷ đồng; An Bình 1.131 tỷ đồng; Quân đội 1.045 tỷ đồng; Quốc tế 1.000 tỷ đông...). Nhiều ngân hàng đạt tới tỷ số an toàn vốn CAR 8%.

- Lợi nhuận bình quân cao hơn năm 2003 khoảng 3 - 4 lần, cổ tức đạt khoảng 12 - 20%/ năm. Nợ xấu bình quân là 2%, có ngân hàng như Eximbank, nợ xấu đạt 0,85%.

- Quy mô và tăng trưởng tăng mạnh cả về nguồn vốn, tổng doanh thu, tổng dư nợ cho vay và đầu tư, nhiều ngân hàng tăng tới 50 - 80% so với năm 2005. Mạng lưới giao dịch và nhân viên tăng mạnh.

- Chiến lược nguồn nhân lực có sự đột phá. Với mức thu nhập cao, chế độ ưu đãi tốt, cơ hội thăng tiến và phát triển mạnh, các chế độ của người lao động được đảm bảo, các ưu đãi về cổ tức và cổ phiếu tốt, các NHTMCP đang là nơi thu hút nhân lực có trình độ và có” lửa” về ngân hàng. Cái mà họ cần là sự say mê, tâm huyết, dám nghĩ dám làm, mạnh dạn giao việc và trách nhiệm với chế độ ưu đãi tương xứng. Vì vậy, nhân lực trình độ cao từ các ngân hàng quốc tế, từ các NHTMNN, từ các cơ quan quản lý Nhà nước... đã đầu quân cho NHTMCP khá nhiều. Nhu cầu về ngành này đang trở nên rất “nóng” trong xã hội.

- Sự thay đổi trong cơ cấu cổ đông: Ngoài cổ đông Nhà nước, các NHTMCP đang có sự đa dạng trong thu hút cổ đông, đó là cổ đông nước ngoài (nhiều NHTMCP có cổ đông là nhà đầu tư nước ngoài chiếm hữu từ 10 - 30% vốn điều lệ như Sacombank, Phương Nam, ACB, Techcombank, VPBank, Habubank...), cổ đông là pháp nhân khác ( như DNNN, Công ty cổ phần khác, NHTMNN..), là Việt kiều, là cổ đông lớn trong ngân hàng như HĐQT... Sự tham gia ngày càng nhiều của các nhà đầu tư nước ngoài đang là một hiện tượng phổ biến hiện nay.

- Sự đa dạng về dịch vụ ngân hàng và áp dụng công nghệ thông tin: Chính các NHTMCP có vốn lớn đã triển khai kịp thời và thống nhất các dịch vụ ngân hàng mới. Chính các NHTMCP đã có sự nắm bắt với sự phát triển mạnh mẽ của thị trường chứng khoán một cách nhanh nhạy thông qua các hoạt động cho vay chứng khoán, cầm cố, repo, góp vốn cổ phần vào các công ty phi tài chính; hoặc là đẩy nhanh quá trình tăng vốn điều lệ của mình thông qua phát hành cổ phiếu ngân hàng, chia cổ phiếu thưởng, quyền mua cổ phần...

Các NHTMNN cũng có những chuyển biến khá tốt về:

- Quản trị điều hành: Các NHTM này đều có sự tái cơ cấu trong tổ chức điều hành, sắp xếp lại các phòng, ban, chi nhánh phù hợp hơn với yêu cầu mới, nâng cao quyền tự chủ của các đơn vị. Nhiều ban quan trọng đã được thành lập và hoạt động đúng với ý nghĩa hơn, ví dụ Uỷ ban quản lý Tài sản nợ - Tài sản Có trong các NHTMNN, Ban kiểm soát...

- Về mô hình: Các NHTMNN đều hướng tới mô hình mới trong thời gian tới theo hướng phát triển ngân hàng bán lẻ, xây dựng tập đoàn đa năng, có thể sẽ thay mô hình tập đoàn tài chính; gấp rút đẩy nhanh tiến độ cổ phần hoá, ví dụ Vietcombank, Incombank...

- Về cải thiện năng lực cạnh tranh: Thời gian qua, chúng ta thấy khối NHTMNN có sự cải thiện về năng lực tài chính, với việc phát hành trái phiếu chuyển đổi, trích lập quỹ dự phòng rủi ro, giải quyết cơ bản nợ xấu - căn bệnh trầm kha của các NHTMNN. Các NHTM đều ít nhiều áp dụng quản trị rủi ro hoạt động của mình.

- Việc sử dụng công nghệ thông tin, trước hết là trong toàn hệ thống là một bước tiến mới đáng khích lệ của các NHTMNN với mạng lưới rộng, cán bộ đông.

2. Vấn đề đặt ra

Đối với NHTMCP:

- Tăng vốn để đạt 1000 tỷ đồng vào năm 2008 và 3.000 tỷ đồng vào năm 2010 theo Nghị định số 141/2006/NĐ-CP ngày 22/11/2006 của Chính phủ: Các NHTMCP loại A không ngừng tăng vốn theo quyết định của đại hội cổ đông đầu năm, ví dụ Sacombank tăng lên tới 4.500 tỷ đồng, Eximbank phấn đấu tăng vốn đạt 2.800tỷ đồng; EAB tăng vốn từ 880 tỷ đồng lên 1.400 tỷ đồng và sau đó sẽ tăng lên tới 2.000 tỷ đồng trong năm 2007... Các NHTMCP nhỏ cũng không ngừng mở rộng quy mô vốn, có tới 26/34 NHTMCP vốn điều lệ tính đến 6/2/2007 chưa đạt tới 1.000 tỷ đồng, nếu không thì không thể mở rộng cho vay. Vì vậy, việc các NHTMCP phát hành cổ phiếu để tăng vốn sẽ diễn ra ồ ạt trong năm 2007. Chưa bao giờ các doanh nghiệp và ngân hàng dễ huy động vốn như hiện nay thông qua phát hành chứng khoán. Trào lưu và sự dễ tính trong đầu tư chứng khoán đã cho phép huy động vốn từ công chúng vào các doanh nghiệp một cách nhanh chóng, thậm chí không cần biết cơ sở phát hành. Nếu không có sự quản lý chặt chẽ ở đây thì cơ sở phát hành chứng khoán của NHTM là không chặt chẽ, sự ổn định trong huy động và sử dụng vốn sẽ là khó khăn, có khả năng đe doạ an toàn tài chính trong thời gian tới. Sức ép về tăng tổng quy mô tài sản với việc tăng vốn tự có dễ làm tăng nợ xấu lớn do khả năng thẩm định các dự án ít có độ tin cậy.

- Thành lập mới NHTMCP: Nhu cầu thành lập mới ngân hàng hiện nay là lớn, khi mà kinh doanh về dịch vụ tài chính có khả năng sinh lời cao, cổ phiếu ngân hàng lên giá. Việc cho phép thành lập các NHTM mới thuộc thẩm quyền của Ngân hàng Nhà nước, song quan điểm là nâng cao các điều kiện và tiêu chí thành lập trong bối cảnh hội nhập quốc tế, ngay từ đầu đảm bảo năng lực cạnh tranh về tài chính, công nghệ, nhân lực, quản trị điều hành theo chuẩn mực quốc tế về hoạt động ngân hàng.

- Cho dù thành công nhiều từ năm 1995 cho đến nay, song phần lớn các NHTMCP có quy mô nhỏ, công nghệ chưa thống nhất. Điều khó khăn nhất là quản trị ngân hàng, trong đó là quản trị rủi ro mà các NHTM phải vượt qua.

- Thành lập các ngân hàng lớn: Các ngân hàng lớn là đòi hỏi tất yếu của hội nhập quốc tế. Có nhiều hình thức thành lập các ngân hàng lớn như: (1) Các ngân hàng nước ngoài góp vốn đầu tư vào NHTMCP trong nước thông qua trở thành cổ đông chiến lược. Qua phân tích cho thấy, các ngân hàng nước ngoài hiện nay thường chọn cách này do chi phí thấp, tận dụng được các lợi thế của ngân hàng nội địa, rút ngắn thời gian tìm hiểu thị trường; (2) Sáp nhập các ngân hàng với nhau - NHTMCP với nhau, NHTMCP và NHTMNN, NHTMCP và các tổ chức phi ngân hàng; (3) Tự bản thân các NHTM vươn lên trở thành các ngân hàng lớn trong nước và trong khu vực, ví dụ các NHTMNN thực hiện cổ phần hoá, xây dựng thành các tập đoàn đa năng; (4) Các tập đoàn kinh tế xây dựng NHTM của riêng hệ thống, ví dụ Tập đoàn Bưu chính - Viễn thông, Tập đoàn bảo hiểm Bảo Việt... Vì vậy, bức tranh về NHTM ở Việt Nam sẽ là đa dạng và nhiều màu hơn. Việc lựa chọn mô hình nào là sự thử thách đối với các NHTM trước hội nhập.

Đối với NHTMNN:

Các NHTMNN dần trở thành các NHTMCP với mức vốn nhất định của Nhà nước, tối thiểu là 51%. Các lợi thế so sánh xưa nay nếu không giữ được sẽ là mối lo ngại cho khối các ngân hàng này. Sớm muộn, ở Việt Nam, sẽ chỉ có 2 khối ngân hàng hoạt động là NHTMCP và ngân hàng nước ngoài. Để giữ được thương hiệu, việc cổ phần hoá cần gắn với niêm yết chứng khoán ngay từ đầu trên Sở Giao dịch chứng khoán sẽ được thành lập ở Việt Nam hoặc ở nước ngoài. Mặt khác, quá trình cổ phần hoá này sẽ có sự góp vốn của các ngân hàng, các tập đoàn tài chính nước ngoài, làm cải thiện nhanh chóng những khiếm khuyết của các NHTMNN về vốn, quản trị, tổ chức, công nghệ.

Đối với NHNN:

- Việc xây dựng mô hình Ngân hàng Trung ương (NHTW) hiện đại đang là vấn đề thử thách và là nhiệm vụ trọng tâm của NHNN. Nếu không, vai trò ổn định tiền tệ, hoạch định và thực thi chính sách tiền tệ của NHNN sẽ không có hiệu quả thực sự. Chuyển biến được vấn đề này là một bước ngoặt quan trọng trong sự phát triển của NHNN.

- Xây dựng thị trường tiền tệ đồng bộ với thị trường chứng khoán: Từ năm 1993, vấn đề này đã được các nhà nghiên cứu đặt ra, song chưa có điều kiện thực thi. Cho đến nay, trước sự phát triển mạnh mẽ của thị trường chứng khoán và nhu cầu tái cấp vốn cho các NHTM, việc hoàn thiện thị trường tiền tệ cho đúng nghĩa của nó nổi lên là vấn đề đáng quan tâm của NHNN, nhằm cấp vốn kịp thời và luân chuyển vốn ngắn hạn ra - vào cho các TCTD. ở đây, công ty môi giới tiền tệ trên thị trường liên ngân hàng là công việc đầu tiên cần phải sớm thành lập. Cùng với nó là vấn đề xác định lãi suất liên ngân hàng trên thị trường liên ngân hàng, tạo ra lãi suất cơ sở cho các lãi suất thị trường.

- An toàn tài chính - tiền tệ: Đây thực sự là vấn đề cần quan tâm trong hội nhập, với xu hướng vốn đầu tư nước ngoài đổ vào Việt Nam nhiều, với sự nóng lên của thị trường tài chính và hệ thống tài chính. Đã có nhiều dấu hiệu về việc rửa tiền của nhà đầu tư nước ngoài ở Việt Nam và rửa tiền của các nhà đầu tư lớn Việt Nam từ nhiều giới qua sự thông thoáng của Pháp lệnh Ngoại hối, Luật Đầu tư, Luật Chứng khoán.

- Việc quản lý các NHTM nói riêng và TCTD nói chung đặt ra cho NHNN những vấn đề mới nhằm đảm bảo an toàn hệ thống, phù hợp với tiến trình hội nhập. Không phải chỉ là các NHTM mà các loại hình ngân hàng khác đã và sẽ hoạt động tại Việt Nam (ngân hàng phát triển, ngân hàng hợp tác, ngân hàng đầu tư), ngoài ra còn có các NHTM do các tổng công ty thành lập. Vì vậy, vấn đề thanh tra tài chính và thanh tra ngân hàng sẽ nổi lên là vấn đề trọng tâm.

3. Một số giải pháp

Có nhiều giải pháp cần thực hiện để cho ngành Ngân hàng sớm đạt được những ước mơ của mình, song sau đây là một số cụm giải pháp quan trọng nhất:

Về phía NHNN:

- Tập trung vào xây dựng NHTW hiện đại với đầy đủ quyền năng của nó, trong đó, tập trung vào sửa đổi 2 Luật Ngân hàng một cách tổng thể và thống nhất với các luật khác, với các quy định chung của ngân hàng trên thế giới.

- Vấn đề xây dựng cơ quan Giám sát tài chính quốc gia thống nhất nên sớm thực hiện, cho dù có nhiều khó khăn và trở ngại, phải thực hiện trong lộ trình trung hạn.

- Tập trung nguồn lực vào cảnh báo, dự báo tầm vĩ mô các hoạt động kinh tế và tiền tệ. Điều này cũng là thể hiện tầm của NHNN.

Về phía các NHTMNN:

- Gấp rút thực hiện cổ phần hoá ngân hàng, tiến tới xây dựng các tập đoàn tài chính trong ngành Ngân hàng. Để cổ phần hoá triệt để, khối ngân hàng này cần định giá tài sản ngân hàng đúng thông qua cơ quan tư vấn được chấp thuận, qua đó, xác định giá trị cổ phiếu ban đầu một cách hợp lý, không làm thất thoát tài sản Nhà nước trong quá trình cổ phần hoá, tạo ra sự ổn định hệ thống tài chính.

- Trong quá trình hội nhập, xem xét thoả đáng các bước đi trong mở rộng quy mô ngân hàng, có thể là đẩy mạnh đầu tư tài chính trong chiến lược kinh doanh (trở thành đối tác chiến lược của các NHTMCP, các doanh nghiệp phi tài chính, hoặc đầu tư vào chứng khoán của các ngành phát hành qua hoạt động IPO…), hoặc là sáp nhập với các ngân hàng hoặc tổ chức tài chính phi ngân hàng để trở thành ngân hàng có quy mô và phạm vi hoạt động lớn hơn.

- Một hướng đi cần xem xét nữa là niêm yết cổ phiếu ngân hàng trên Sở giao dịch chứng khoán TP. Hồ Chí Minh hoặc Sở giao dịch chứng khoán các nước khác, tuỳ theo khả năng và chiến lược của ngân hàng. Ngân hàng Southern Bank là một trong những NHTMCP đi tiên phong trong hoạt động này ở Trung tâm giao dịch chứng khoán Singapore.

Về phía các NHTMCP:

Giải pháp quan trọng nhất là tập trung vào cải cách quản trị điều hành, bao gồm tất cả các hoạt động của ngân hàng như cơ cấu tổ chức, các hoạt động dịch vụ, quy trình làm việc… Không nên quá coi trọng vào lợi nhuận và tăng vốn, cũng không nên quá kỳ vọng vào sự chuyển giao công nghệ, khả năng quản lý… từ các ngân hàng nước ngoài nếu tỷ lệ vốn góp của họ vào một NHTMCP không quá lớn. Việc sáp nhập các NHTMCP nhỏ vào các ngân hàng lớn sẽ diễn ra để hình thành các ngân hàng lớn hơn. Vì vậy, hơn lúc nào hết, việc chú trọng vào xây dựng và thực hiện chiến lược trung dài hạn đối với khối ngân hàng này là sự sống còn.

- Vấn đề cán bộ: Luôn luôn đây là vấn đề then chốt, quyết định sự thành công của đổi mới. Cán bộ hoạch định và thực thi chính sách ở NHNN hiện nay đang là mảng trống do sự thay đổi và luân chuyển cán bộ. Cán bộ ở các NHTMNN, nếu không có sự đãi ngộ thích hợp, thì việc chuyển công tác là chuyện thường ngày xảy ra. Vì vậy, mạnh dạn sử dụng cán bộ trẻ, coi trọng cán bộ có trình độ, kèm theo đó là chế độ trọng dụng, không bao giờ là thừa và lý thuyết.

Tóm lại, tính cạnh tranh trong hoạt động ngân hàng ở Việt Nam ngày càng cao, đa chiều. Mỗi NHTM phải tự nỗ lực đổi mới, hướng tới nâng cao năng lực cạnh tranh để tự thích nghi với sự thay đổi này. Điều này lại phụ thuộc vào diễn biến điều hành vĩ mô. Chúng ta có quyền hy vọng vào cuộc vượt vũ môn ngoạn mục của các NHTM Việt Nam để chuyển thành các con rồng nhỏ trong lĩnh vực tài chính - ngân hàng.n

Tài liệu tham khảo:

- Báo đầu tư chứng khoán các số 24, 25, 26, tháng 3/2007.

- Tạp chí Ngân hàng các số 3 + 4, 5, 6 năm 2007.

- Thời báo Ngân hàng ngày 24/3/2007.

PGS.TS Lê Hoàng Nga
Học viện Ngân hàng

Biên tập và tổng hợp từ nguồn "TC Ngân hàng số 9/2007"

(5950 Lượt xem)

CÁC TIN BÀI KHÁC:
Ngôn ngữ Ngôn ngữ
English (United States) Tiếng Việt (Việt Nam)
Hoạt động nghiên cứu khoa học Hoạt động nghiên cứu khoa học
Tin hoạt động khoa học tháng 02 năm 2019 (11/3/2019)

Tin hoạt động khoa học tháng 01 năm 2019 (21/2/2019)

Tin hoạt động khoa học tháng 12 năm 2018 (22/1/2019)


Số lượt truy cập Số lượt truy cập
19394374