CÁC VẤN ĐỀ KHÁC CÁC VẤN ĐỀ KHÁC
Cách thức xây dựng mô hình kinh tế

Đã có khá nhiều thông tin về sự chuẩn bị của các ngành cho giai đoạn sau khi Việt Nam gia nhập Tổ chức Thương mại thế giới (WTO), nhưng dường như vẫn chưa có một khuôn khổ phân tích chính thức cho thấy cách thức thiết lập chiến lược phát triển và cơ chế vận hành mô hình phát triển kinh tế. Khái niệm “chiến lược” sử dụng trong mô hình không đơn thuần là những con số và các chỉ tiêu.

Phương thức vận hành mô hình

Nếu tạm thời chưa đề cập những bất cập trong điều hành kinh tế vĩ mô, thì một vấn đề nổi cộm là chúng ta chưa xác định được cách thức tiếp cận theo mô hình cho các chương trình phát triển hậu gia nhập WTO.

Việc thiết lập mô hình chiến lược phụ thuộc phần lớn vào các biến số sẵn có và các biến số dự báo. Các biến số của mô hình chiến lược hậu gia nhập WTO tùy thuộc vào quan điểm và cơ sở dữ liệu thu thập được từ phía các nhà hoạch định chính sách.

Có những nguyên tắc chung nhất khi xây dựng các biến số căn bản của mô hình. Trước hết là các biến số sẵn có, như các chỉ tiêu phát triển kinh tế - xã hội giai đoạn 2006 - 2010. Tiếp theo là các biến số dự báo cho giai đoạn sau khi Việt Nam là thành viên WTO, như tăng trưởng/suy giảm của các ngành công nghiệp; nguồn thu thuế nhập khẩu giảm đi (bình quân khoảng 1.000 tỷ đồng mỗi năm); bù cho việc cắt giảm thuế như trên sẽ làm tăng thêm bao nhiêu kim ngạch thương mại chung và tăng kim ngạch nhập khẩu của các mặt hàng giảm thuế; nguồn thu tăng lên từ cổ phần hóa các DNNN... Các biến số này sẽ được liên kết với nhau dưới dạng các tương quan, như giữa thâm hụt cán cân thanh toán với GDP, đầu tư và chi tiêu của Chính phủ.

Hàng loạt mối tương quan trong mô hình chiến lược luôn dựa trên một hoặc nhiều hạng mục được gọi là “hạng mục điều chỉnh”. Hạng mục điều chỉnh có thể là “nguồn vốn đầu tư trực tiếp và gián tiếp tăng thêm” và/hoặc “cắt giảm chi thường xuyên trong dự toán ngân sách” để đối phó với tình trạng thâm hụt cán cân thương mại. Tất nhiên, còn có hàng loạt mối tương quan và hạng mục điều chỉnh khác nữa trong mô hình mà phần trên chỉ là một ví dụ điển hình.

Mô hình chiến lược có thể được thiếp lập chung cho cả nền kinh tế hoặc cho một ngành công nghiệp nào đó. Công việc này sẽ được thực hiện với sự hỗ trợ của máy tính, nhưng điều quan trọng nhất là các nhà hoạch định chính sách cần phải cố gắng xác lập các biến số và các phương trình tương quan giữa chúng.

Cách tiếp cận theo mô hình như thế là công cụ hỗ trợ đắc lực cho Chính phủ trong việc đánh giá và lựa chọn các chiến lược phát triển tối ưu; phân tích và đánh giá sự tương tác giữa các chiến lược tăng trưởng và các mối quan hệ; dự đoán những thành quả tương lai của các quyết định chính sách hiện tại để dự đoán và xử lý những bất ngờ có thể phát sinh. Đây chính là những vấn đề cần phải khẩn trương hoàn thiện trong quá trình xác lập chiến lược phát triển giai đoạn hậu WTO.

Ta hãy thử lấy một ví dụ để minh họa cho cách tiếp cận theo mô hình của Tập đoàn Goldman Sachs khi đánh giá về tiềm năng tăng trưởng của Việt Nam. Họ đã đưa vào mô hình của mình 5 nhóm tiêu chí: (1) ổn định kinh tế vĩ mô; (2) tỷ lệ đầu tư và độ mở của nền kinh tế; (3) năng lực công nghệ (4); vốn, nhân lực, giáo dục và tuổi thọ; (5) ổn định chính trị, nhà nước, pháp quyền và tham nhũng. Căn cứ các chỉ tiêu trên, báo cáo tháng 12/2005 của Goldman Sachs dự báo đến năm 2025, Việt Nam có thể là nền kinh tế lớn thứ 17 trên thế giới, với GDP đạt 436 tỷ USD và GDP bình quân đầu người là 4.357 USD.

Xét trên góc độ tác động của WTO đối với kinh tế thế giới, vào tháng 3/2006, Tổ chức nghiên cứu Carnegie Endowment for International Peace đã sử dụng chương trình máy tính để xây dựng một mô hình xem xét tác động của Vòng đàm phán Doha khi ngã ngũ đối với các quốc gia. Dựa vào kết quả tiến trình đàm phán Doha tại Hồng Kông tháng 12/2005, mô hình Carnegie cho thấy, GDP toàn cầu sẽ tăng thêm khoảng 43,4 tỷ USD/năm và cơ hội hưởng lợi được chia đều cho cả các nước giàu lẫn các nước nghèo. Theo tính toán từ mô hình này, Mỹ chỉ chiếm 4,6 tỷ USD trong khoản 43,4 tỷ USD trên. Những nước hưởng lợi nhiều nhất từ Vòng đàm phán Doha (theo mô hình Carnegie) là Nhật Bản (chiếm 6,5 tỷ USD/năm) và EU (chiếm 5,8 tỷ USD/năm). Trong số các nước đang phát triển, Trung Quốc được lợi nhiều nhất (10,3 tỷ USD/năm), gấp 4 lần so với Ấn Độ. Những nước bị thiệt hại nhiều nhất sẽ là Bangladesh, Malawi, Tanzania và Uganda cùng phần còn lại của khu vực cận Sahara. Trong khi đó, Argentina, Brazil, Nam Phi và Thái Lan lại được hưởng lợi đáng kể từ nông nghiệp.

Những minh họa trên cho thấy, cách tiếp cận theo mô hình với sự hỗ trợ của máy tính là điều cần phải tính đến trong các chiến lược phát triển kinh tế của Việt Nam trong giai đoạn sắp đến.

Đối phó với các bất ngờ có thể xảy ra

Các mô hình chiến lược không phải là cái gì đó bất biến và phải kiên định giữ vững cho bằng được. Mô hình chiến lược luôn thay đổi, vì theo thời gian, các biến số giá nhân công rẻ, chi phí sản xuất thấp và nguồn vốn đầu tư nước ngoài có thể giảm đi, trong khi một số cơ hội khác lại xuất hiện. Điểm độc đáo của tư duy theo mô hình chiến lược là, khi có những thay đổi theo thời gian, mô hình có khả năng dự báo ngay lập tức những bất ngờ cần phải đối phó như thế nào.

WTO đã trở thành hiện thực và cũng đã có khá nhiều phân tích chiến lược của từng ngành, nghề về giai đoạn hậu gia nhập WTO, nhưng dường như đó mới chỉ là nỗ lực riêng biệt trong từng lĩnh vực cụ thể, như dệt may, nông nghiệp hay dịch vụ tài chính - ngân hàng. Sẽ thật tốt nếu như ngay trong bản thân từng ngành cũng xây dựng mô hình chiến lược như trên, nhưng rất tiếc là cách tiếp cận theo mô hình vẫn còn khá xa lạ với các nhà hoạch định chính sách của Việt Nam.

Nhiều chuyên gia kinh tế nước ngoài cũng đã nhận thấy rằng, Việt Nam hiện thiếu một cách tiếp cận có hệ thống các mô hình phát triển. Cách thức phát triển hiện nay phải đối mặt với hội chứng “công nghiệp chiến lược”, thay vì hướng đến một chiến lược tổng thể. Việc thiết lập mô hình chiến lược ở tầm vĩ mô sẽ giúp Chính phủ nhận diện được đâu là ngành công nghiệp mũi nhọn một cách tối ưu và tránh lặp lại các sai lầm. Trên thực tế, ngành công nghiệp chiến lược không bao giờ là những ngành được lựa chọn một cách chủ quan rồi sau đó được tập trung ưu tiên đầu tư để trở thành chủ đạo, mà chính là những ngành tự bản thân đã có khả năng cạnh tranh cao nhất và có thể phát triển tự nhiên để tồn tại mà không cần đến sự hỗ trợ của Nhà nước.

Chính các bất ngờ hay rủi ro xuất hiện khiến những đánh giá cao của các tổ chức quốc tế về tiềm năng tăng trưởng của Việt Nam luôn được kèm theo một dấu hỏi. Điều quan trọng nhất của việc xây dựng chiến lược phát triển theo cách thức như trên sẽ là một trong những cách thức giúp cho các nhà hoạch định chính sách phản ứng thật nhanh trước các bất ngờ hay cú sốc xuất hiện.

Những phản ứng chính sách để đối phó với các bất ngờ, thậm chí là các cú sốc xảy ra, chỉ có thể hiệu quả nếu như các nhà hoạch định chính sách có trong tay công cụ là các mô hình dự báo và cách tiếp cận chiến lược kinh tế theo mô hình, thay cho cách làm như hiện nay là mỗi bộ, ngành đều có chiến lược phát triển riêng mà thiếu một đầu mối tổng hợp lại theo một mô hình chiến lược nhất quán. Các chỉ tiêu và kế hoạch phát triển của từng bộ, ngành vì vậy, khi tổng hợp lại, nhiều khi lại dẫn đến những mâu thuẫn không có lợi cho sự phát triển của nền kinh tế.

PGS.TS. Trần Ngọc Thơ
Đại học Kinh tế TP.HCM

Nguồn: Báo Đầu tư 5/2007

 

(7085 Lượt xem)

CÁC TIN BÀI KHÁC:
Ngôn ngữ Ngôn ngữ
English (United States) Tiếng Việt (Việt Nam)
Hoạt động nghiên cứu khoa học Hoạt động nghiên cứu khoa học
Tin hoạt động khoa học tháng 08 năm 2018 (11/9/2018)

Tin hoạt động khoa học tháng 07 năm 2018 (13/8/2018)

Tin hoạt động khoa học tháng 06 năm 2018 (9/7/2018)


Số lượt truy cập Số lượt truy cập
18458444