CÁC VẤN ĐỀ KHÁC CÁC VẤN ĐỀ KHÁC
Chiến lược phát triển ngành và chuyển dịch cơ cấu ở Xingapo - Phần 5

5. Tầm nhìn công nghệ thông tin 2000 (IT2000) và những sáng kiến cơ sở hạ tầng thông tin quốc gia (NII)

Mục đích chiến lược của những chương trình này là biến Xingapo thành một hòn đảo thông minh thông qua sự khai thác công nghệ thông tin mang tính cách tận và sự phát triển cơ sở hạ tầng viễn thông và thông tin tiên tiến. Cùng với sưự hội tụ của các ngành viễn thông, máy tính, điện tử tiêu dùng và truyền thông; và cuộc đua toàn cầu giữa các quốc gia tiên tiến trong việc xây dựng những siêu xa lộ thông tin nhằm thúc đẩy sự phát triển của các ngành tốc độ cao, tương tác và dựa vào truyền thông đa phương tiện, Hội Đồng Máy Tính Quốc Gia Xingapo đã tập trung vào phát triển những ứng dụng mang tính công nghệ hàng đầu của Cơ Sở Hạ Tầng Thông Tin Quốc Gia như thư viện kỹ thuật số, mạng lưới dịch vụ truyền thông đa phương tiện đến các trường học, và y tế từ xa. Một loạt các thử nghiệm về hệ thống băng thông rộng quốc gia ATM (Asynchronous Transaction Mode – Phương Thức Giao Dịch Không Đồng Bộ) đã được thực hiện nhằm hỗ trợ hoạt động R&D và việc thử nghiệm trên những dịch vụ thông tin băng thông rộng khác nhau cũng đang được phát triển.

Cùng lúc đó, Xingapo Telecoms, mặc dù đã được tư nhân hóa, đã cam kết một chương trình kết nối tất cả các căn nhà và văn phòng ở Xingapo bằng sợi quang học cho đến năm 2005 hay sớm hơn nếu nhu cầu thị trường phát triển. Cho đến tháng 8/1995, 80% tất cả các cao ốc ở Xingapo, bao gồm tất cả các tài sản kinh doanh trong khu vực kinh doanh trung tâm và hầu hết bất động sản của nhà nước đã được kết nối bằng sợi quang học. Một chính sách kết nối kép cũng đã được công bố, trong đó truyền hình cáp sẽ được cài sẵn ở tất cả các hộ gia đình ở Xingapo bằng sợi đồng trục. Một công ty nhà nước là SCV (Xingapo Cable Vision – Công Ty Truyền Hình Cáp Xingapo) đã được hình thành năm 1994 nhằm cung cấp dịch vụ 30 kênh truyền hình cáp cho tất cả các hộ gia đình. Chính quyền Xingapo hẳn cũng định cho phép SCV cung cấp các dịch vụ băng thông rộng khác cho các hộ gia đình, bao gồm cả các dị6ch vụ viễn thông, nhằm cạnh tranh với Xingapo Telecoms. Xingapo Telecoms nhiều khả năng sẽ được phép tham gia cung cấp dịch vụ video theo yêu cầu (VOD) cho các gia đình và quả thực là là công ty này đã thử nghiệm loại hình dịch vụ này vào đầu năm 1996.

6. Doanh nghiệp địa phương 2000

Trong khi tiếp tục nhấn mạnh yêu cầu thu hút các công ty đa quốc gia và đầu tư trực tiếp nước ngoài, chính phủ Xingapo cũng cam kết thúc đẩy sự phát triển của các doanh nghiệp địa phương. Các bảng dưới đây cho thấy các xu hướng tăng trưởng gần đây của các khoản trợ cấp, cho vay với lãi suất ưu đãi và các ưu đãi về thuế cho việc hỗ trợ các doanh nghiệp địa phương. Ngoài những kế hoạch khuyến khích này, chính phủ Xingapo đã sử dụng Chương Trình Nâng Cấp Công Nghiệp Địa Phương (LIUP) nhằm thúc đẩy các công ty đa quốc gia ở Xingapo trong việc giúp nâng cấp các công ty địa phương là nhà cung cấp hay đối tác kinh doanh của họ.

Bảng 13: Hỗ trợ vốn vay cho các DN địa phương, 1990-1994

 

Các khoản vay được chấp thuận

Năm

Triệu đô la Xingapo

Số lượng

1990

359,5

1.613

1991

377,9

1.758

1992

348,7

1.561

1993

387,4

1.631

1994

468,8

1.653

Nguồn: trích từ Industrial Policies in the East Asia (1997)

Bảng 14: Ưu đãi thuế để trợ giúp các DN địa phương, 1990-1994

 

Trợ cấp

đầu tư

Trạng thái

tiên phong

Giảm thuế

hai lần

Tổng cộng

các ưu đãi thuế

Năm

Triệu

đô la

Số lượng

Triệu

đô la

Số lượng

Triệu

đô la

Số lượng

Triệu

đô la

Số lượng

1990

78,7

309

-

15

11,8

990

90,5

1.314

1991

118,6

98

-

8

12,0

959

130,6

1.065

1992

66,1

44

-

8

16,6

1.054

82,7

1.106

1993

121,6

55

-

17

13,5

1.143

135,1

1.215

1994

248,7

61

-

7

11,7

1.084

260,4

1.162

Nguồn: trích từ Industrial Policies in the East Asia (1997)

Nhằm đẩy mạnh vai trò của các công ty địa phương trong các cụm ngành chủ yếu, chiến lược của chính phủ là chuẩn bị một nhóm các doanh nghiệp địa phương nhiều hứa hẹn để trở thành các công ty đa quốc gia và những công ty hàng đầu trong tương lai. Mục tiêu của chương trình này là nuôi dưỡng 100 công ty địa phương có doanh số hơn 100 triệu USD trong 10 năm tới. Triết lý đằng sau chính sách hướng về các doanh nghiệp nhỏ và vừa của chính phú Xingapo này là không đảm bảo sự tồn tại của chúng qua việc bảo hộ cạnh tranh với các công ty đa quốc gia lớn hơn, mà là khuyến khích chúng nâng cấp năng suất và cải thiện cách quản lý chúng nhằm đáp ứng thách thức của sự cạnh tranh.

7. Chương trình cùng hợp tác đầu tư

Chương trình cùng hợp tác đầu tư nhằm xây dựng và mở rộng các mối quan hệ với các công ty hàng đầu trên thế giới thông qua sự cộng tác cùng đầu tư trong những dự án có qui mô quan trọng va qua đó giảm đi rủi ro cho những đối tác nước ngoài. Động cơ chính yếu bằng sau những sáng kiến này là sự nhận thức rằng, khi Xingapo tìm kiếm việc thu hút các khoản đầu tư từ nước ngoài mang tính thâm dụng vốn và thâm dụng công nghệ ngày càng cao, các kế hoạch ưu đãi thuế truyền thống có lẽ sẽ không đủ do những cam kết vốn và rủi ro cao hơn nhiều. Vì vậy, chính phủ Xingapo đã chuẩn bị hợp tác đầu tư trong những dự án này nhằm làm cho chúng trở nên hấp dẫn hơn với các đối tác. Một động cơ khác là tạo điều kiện thuận lợi cho việc chuyển giao công nghệ từ các đối tác nước ngoài cho các công ty trong nước.

Một ví dụ của sự phát triển này là trong ngành sản xuất chất bán dẫn, ngành mà chính phủ Xingapo, thông qua Hội Đồng Phát Triển Kinh Tế, cùng đầu tư trong một dự án gọi là Semi-Tech cùng với các công ty HP, Texas Instruments và Canon nhằm sản xuất các thanh DRAM 16Mbit. Các dự án cùng đâầu tư khác cũng được tiến hành trong lĩnh vực hóa dầu và công nghệ sinh học. Trong tương lai, chiến lược cùng đầu tư nhiều khả năng cũng sẽ được mở rộng sang các dự án ở ngoài Xingapo.

8. Quỹ cụm ngành

Một tiêu điểm của Kế Hoạch Kinh Tế Chiến Lược (SEP) là nhu cầu tập trung sự chú ý chính sách công nghiệp không chỉ ở mức độ từng ngành cụ thể mà còn ở mức độ các cụm ngành (cluster) - nghĩa là phức hợp các ngành hỗ trợ và nguồn lực có liên kết với nhau theo chiều dọc và chiều ngang mà cùng tạo ra các sản phẩm và dịch vụ cuối cùng mang tính cạnh tranh (Porter 1990). Như vậy, chiến lược phát triển công nghiệp liên quan đến việc đặc biệt chú ý đến việc gia tăng sức mạnh của các bộ phận cấu thành chính của mỗi cụm ngành theo cách củng cố lẫn nhau.

Xuất phát từ việc nhận biết tầm quan trọng của việc thúc đẩy các cụm ngành công nghiệp tích hợp, chính phủ Xingapo đã lập ra một quỹ trị giá 22 tỷ USD nhằm đầu tư vào các hình thức phát triển cụm ngành khác nhau. Chương trình cùng đầu tư là một ví dụ về các hoạt động đầu tư có thể được tài trợ bằng nguồn quỹ cụm ngành. Một ví dụ khác bao gồm các chương trình phát triển năng lực ví dụ như các khóa đào tạo về các kỹ năng đặc biệt cần thiết cho các cụm ngành cụ thể (ví dụ, các kỹ sư công nghệ liên lạc không dây, các kỹ sư sản xuất chất bán dẫn, các chuyên viên về phương tiện truyền thông đại chúng…) và các khoản trợ cấp ban đầu nhằm thu hút các công ty đa quốc gia đầu tư vào một lĩnh vực được xác định là quan trọng trong việc kích thích sự tăng trưởng của một cụm ngành mới. Qui mô rộng lớn của quỹ này nhằm mục đích tạo ra sự linh động cho phép các nhà hoạch định chính sách của chính phù không chỉ dầu tư vào sự phát triển năng lực dài hạn mà còn nhanh chóng đáp ứng được những yêu cầu phát sinh trong ngành.

Ngoài những sáng kiến chính sách công nghiệp chính yếu này, các chính sách đáng lưu ý khác bao gồm sự tiếp tục chính sách tư nhân hóa (mà đã bắt đầu từ cuối thập niên 1980) và các chính sách tích cực nhằm hạn chế chi phí bảo hiểm xã hội và y tế (Wong và Ng 1993) và việc “tái bố trí” ngành dịch vụ dân sự nhằm cải thiện tính linh hoạt và chất lượng của toàn thể khu vực công. 

III. Kết luận

Các chính sách phát triển ngành của Xingapo trong thập niên 1990 đã được trình bày trên đây, tập trung vào các mối quan tâm mới như là yêu cầu quốc tế hóa, gia tăng năng lực đổi mới công nghệ, thu hút và phát triển các ngành mới. Tuy nhiên, những chính sách này thật sự phản ảnh một sự tiếp nối triết lý cơ bản đã chiếm lĩnh trong hai thập niên 1970 và 1980 ở Xingapo. Trong khi sự tập trung chiến lược cụ thể và các mục tiêu chính sách đã thay đổi nhiều trong thập niên 1990 so với các thập niên trước đó, sự tập trung và những mục tiêu mới tượng trưng cho việc ứng dụng và áp dụng đầy sáng tạo đối với những môi trường và thách thức mới, hơn là các triết lý cơ bản mới.

TÀI LIỆU THAM KHẢO

Bùi Tiến Quí (chủ biên) (2000) - Phát triển và quản lý Nhà nước về Kinh tế Dịch vụ - Nhà xuất bản Khoa học Kỹ thuật - Hà Nội.

Ðỗ Hoài Nam (chủ biên) (1996) - Chuyển dịch cơ cấu kinh tế ngành và phát triển các ngành trọng điểm, mũi nhọn ở Việt Nam - Nhà Xuất bản Khoa học Xã hội - Hà Nội.

Ngô Ðình Giao (chủ biên) (1994) - Chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng công nghiệp hóa nền kinh tế quốc dân, Nhà xuất bản Chính trị Quốc gia, Hà Nội.

Phan Văn Sâm (chủ biên) (2001) - Doanh nghiệp dịch vụ - Nguyên lý điều hành (Dịch từ sách của Christine Hope và Alan Muhleman), Nhà Xuất bản Thống kê, TP.HCM.

Chương trình Phát triển Dự án Mêkông (MPDF) (1998) - Dịch vụ hỗ trợ kinh doanh ở Việt Nam.

Kinh nghiệm phát triển của Xingapo (1996) (dịch từ Development Experience of Xingapo (Tan Meck Leng, Low Aik Meng và Chew Soon Beng)), Nhà Xuất bản Thống kê, Hà Nội.

Bản dịch “Hoàn thiện quá trình chuyển đổi của Trung Quốc sang nền kinh tế thị trường” – Chương trình giảng dạy kinh tế Fulbright.

Christopher Hudson (1997), The China Handbook, Fitzroy Dearborn Publishers, Chicago.

Gillis et al. (1992), Economics of Development, (3rd edition), W.W Norton Company, New York.

Hollis Chenery (1979), Structural Change and Development Policy, World Bank Research Publication.

Seiichi Masuyama, Donna Vandenbrink và Chia Siow Yue (1997), Industrial Policies in East Asia, Chong Moh Offset Printing Pte Ltd., Xingapo

Simon Kuznet (1969), Modern Economic Growth, New Haven and London Yale University Press.

Jose L. Tongzon (1998), The Economies of Southeast Asia - The Growth and Development of ASEAN Economies, Edward Elgard Publishing Limited, Cheltenham, United Kingdom.

Asian Development Bank (1995) - Key Indicators of Developing Asian and Pacific Countries.

CD ROM – World Development Indicators 2002, World Bank.

ThS.Cao Minh Nghĩa

 

 

 

(6279 Lượt xem)

CÁC TIN BÀI KHÁC:
Ngôn ngữ Ngôn ngữ
English (United States) Tiếng Việt (Việt Nam)
Hoạt động nghiên cứu khoa học Hoạt động nghiên cứu khoa học
Tin hoạt động khoa học tháng 10 năm 2018 (8/11/2018)

Tin hoạt động khoa học tháng 08 năm 2018 (11/9/2018)

Tin hoạt động khoa học tháng 07 năm 2018 (13/8/2018)


Số lượt truy cập Số lượt truy cập
18802009