Các vấn đề khác - Viện nghiên cứu phát triển TPHCM
CÁC VẤN ĐỀ KHÁC CÁC VẤN ĐỀ KHÁC
Phát triển du lịch – nhìn từ góc độ kinh tế và văn hóa

Bản chất của du lịch là văn hóa. Kinh tế vừa là phương tiện vừa là mục tiêu phát triển du lịch. Sự gắn bó hữu cơ giữa kinh tế và văn hóa là đặc điểm cơ bản của du lịch và là xu hướng lớn trên thế giới hiện nay. Chúng ta cần có những giải pháp hữu hiệu để đạt mục tiêu phát triển du lịch nhanh và bền vững.

Du lịch - sự gắn bó giữa văn hóa và kinh tế

Trên toàn cầu, hiện nay, hằng năm có tới 800 triệu người đi du lịch. Con số này sẽ hơn 1 tỉ vào năm 2010 và đạt 1,6 tỉ vào năm 2020! 60% dòng khách du lịch hiện nay là có mục đích tìm hiểu nền văn hóa khác lạ. Cho nên sản phẩm quan trọng của du lịch là du lịch văn hóa. Sức hấp dẫn du khách là bản sắc văn hóa, cách ứng xử văn hóa của điểm đến và trình độ văn hóa của những nhà tổ chức du lịch chuyên nghiệp. Không có sản phẩm du lịch nào không mang nội dung, không thể hiện bản sắc văn hóa dân tộc. Không một di sản thiên nhiên nào không mang dấu ấn di sản văn hóa dân tộc. Ngay việc bảo tồn, giữ gìn, trân trọng thiên nhiên đến độ cả nhân loại suy tôn một địa danh là di sản thiên nhiên thế giới cũng đã là một sự suy tôn giá trị văn hóa, cách ứng xử văn hóa đối với thiên nhiên của một dân tộc.

Nhưng du lịch không phải và không thể chỉ là văn hóa, mà còn là kinh tế. Không có một túi tiền dư dả không thể đi du lịch, dù chỉ là đi chiêm ngưỡng một nền văn hóa. Không vì thu được nguồn lợi nhuận ngày càng lớn thì không nhà đầu tư nào đứng ra xây dựng khách sạn, nhà hàng, khu nghỉ dưỡng để thu hút khách du lịch. Theo thống kê của Tổ chức Du lịch thế giới năm 2007, du lịch toàn cầu đã đem lại nguồn thu tới 735 tỉ USD, tạo việc làm cho gần 300triệu người. Du lịch hiện đang trở thành ngành kinh tế quan trọng bậc nhất thế giới, sánh ngang với các ngành sản xuất ô-tô, xe máy, kinh doanh vải vóc và thiết bị điện tử. Chính vì vậy, không ít quốc gia đã thành lập Bộ Du lịch, hoặc gắn Du lịch trong những bộ kinh tế lớn.

Khái niệm rộng nhất và đầy đủ hơn cả, có lẽ được thể hiện trong Tuyên bố Ô-sa-ka của Hội nghị Bộ trưởng Du lịch thế giới: "Du lịch là con đẻ của hòa bình, là phương tiện củng cố hòa bình, là phương tiện cân bằng cán cân thanh toán quốc tế".

Đảng ta, từ lâu cũng đã chỉ rõ: "Du lịch là một ngành kinh tế tổng hợp, mang nội dung văn hóa sâu sắc, có tính liên ngành, liên vùng và xã hội hóa cao". Quan điểm này được thể chế hóa thành luật: "Phát triển du lịch bền vững..., bảo đảm hài hòa giữa kinh tế, xã hội và môi trường...theo hướng du lịch văn hóa - lịch sử, du lịch sinh thái; bảo tồn, tôn tạo, phát huygiá trị của tài nguyên du lịch" (Luật Du lịch - Chương 1, Điều 5, Khoản1).

Vấn đề đặt ra đối với du lịch Việt Nam

Những thành tựu đáng ghi nhận của du lịch Việt Nam trong 47 năm qua, kể từ ngày thành lập ngành, nhất là từ khi đổi mới, mở cửa đến nay rất đáng ghi nhận. Đó là kết quả triển khai thực hiện đúng đắn, sáng tạo quan điểm kết hợp văn hóa với kinh tế trong du lịch. Nhìn tổng thể, du lịch Việt Nam trong 15 năm qua từ hàng thấp nhất đã vươn lên hàng trung bình khu vực. Hằng năm, Việt Nam đã có trên 4 triệu lượt khách tới thăm. Mỗi năm, cứ 5 người dân đã có 1 người đi du lịch trong nước, ngoài nước một lần. Thu nhập từ du lịch đã đạt 56.000 tỉ đồng, trong đó ngoại tệ đã gần 3 tỉ USD, Du lịch trở thành ngành xuất khẩu tại chỗ rất hiệu quả và đầy triển vọng, đã tạo ra gần một triệu việc làm, góp phần tích cực xóa đói, giảm nghèo và giao lưu văn hóa, phát triển kinh tế đối ngoại.

Những gì du lịch Việt Nam chưa làm được, còn yếu kém, cũng phần lớn là ở chỗ chưa thể hiện hiệu quả mối quan hệ gắn bó văn hóa và kinh tế trong du lịch. Tốc độ phát triển du lịch tăng đã nhanh nhưng số lượng tuyệt đối còn thấp. Đến 2010, du lịch Việt Nam mới đạt mục tiêu 5,5 - 6 triệu lượt khách quốc tế, thu nhập 4,5 tỉ USD, tạo việc làm cho 1,4 triệu lao động. Trong khi, nhiều nước xung quanh đã đạt gấp 3 lần.

Giải bài toán phát triển du lịch trong mối quan hệ kinh tế - văn hóa, sớm đưa Việt Nam vào hàng các nước có ngành du lịch phát triển trong khu vực, trong điều kiện du lịch nước ta mới ở giai đoạn đầu phát triển quả là một vấn đề lớn, đòi hỏi phải có sự lựa chọn cách đi thích hợp.

Thế giới có nhiều cách đi. Có nước lấy số lượng làm trọng; đón càng nhiều khách càng tốt. Nhưng có nước như Ô-xtrây-li-a chẳng hạn, rất coi trọng hiệu quả, chỉ cần đón 4 triệu lượt khách một năm, nhưng chú trọng chất lượng, giữ chân khách lưu trú lâu hơn, lôi cuốn khách tiêu nhiều tiền hơn, mỗi lượt khách đến thu trên hai nghìn USD, cũng trở thành một trong 10 nước phát triển du lịch hàng đầu thế giới.

Ở nước ta với số lượng 4triệu lượt khách một năm là thấp, trong khi đó, Ma-lai-xi-a đón 20 triệu lượt khách. Không thể đơn thuần chạy theo số lượng, song mục tiêu 5 - 6triệu lượt khách vào năm 2010 dường như còn khiêm tốn, có thể tăng cao hơn, nhất là trong bối cảnh vị thế, sức cạnh tranh tầm quốc gia của một Việt Nam hòa bình, ổn định, phát triển; một Việt Nam sau gia nhập WTO, sau năm APEC Việt Nam thành công. Về chất lượng, hiện nay ta đạt mức trung bình thế giới, thu 800 USD một lượt khách đến. Như vậy, đón thêm một khách du lịch quốc tế, ta có thêm một lượng ngoại tệ tương đương xuất khẩu 4 tấn gạo. Nếu kết hợp thật tốt kinh tế - văn hóa, chỉ tiêu này có thể đạt cao hơn - trên 1.000 USD. Thu nhập du lịch Việt Nam 2010 sẽ không phải là 4,5 tỉ USD mà là 6 - 7 tỉ chẳng hạn. Chỉ có như thế, chủ trương của Đảng: "Phát triển nhanh du lịch, đưa nước ta trở thành trung tâm du lịch, thương mại - dịch vụ có tầm cỡ trong khu vực", "Phát triển du lịch thành ngành mũi nhọn"... mới trở thành hiện thực.

Thử bàn về giải pháp

Đặt ra mục tiêu chính xác là quan trọng nhưng quan trọng hơn, khó hơn là những chủ trương, giải pháp, những việc phải làm, thể hiện được sự gắn bó văn hóa - du lịch để đạt mục tiêu, phát triển du lịch nhanh mà bền vững.

Trước hết, sự gắn bó văn hóa - kinh tế phải được thể hiện ngay từ chiến lược, quy hoạch, kế hoạch phát triển ngành, từ xây dựng sản phẩm du lịch đặc thù, nổi trội của Việt Nam. Gần đây thực hiện nghị quyết của Đảng, triển khai Luật Du lịch và vì nhận thức được lợi ích to lớn, nhiều mặt do du lịch mang lại, hầu hết các cấp ủy, lãnh đạo các địa phương đã có chỉ thị, nghị quyết chuyên đề về du lịch và đang triển khai tích cực, hiệu quả. Các nhà đầu tư trong và ngoài nước đã được khuyến khích, mời gọi. Nhiều dự án đầu tư du lịch đã có quy mô lên tới trên dưới 1 tỉ USD. Cơ sở vật chất - kỹ thuật trong ngành đã khá khang trang. Nhiều khu du lịch sang trọng trải dài khắp đất nước. Đây là kết quả đáng mừng. Song có vấn đề lớn đặt ra là, phải thực sự quan tâm đến công tác xây dựng quy hoạch và quản lý quy hoạch phát triển du lịch. Nếu mạnh ai nấy làm, đâu cũng có sản phẩm du lịch giống nhau, manh mún và thiếu con mắt chuyên nghiệp, đã thế lại bị chồng lấn, xen kẽ giữa du lịch với công nghiệp, với khai thác, chế biến, xây dựng... sẽ mất tài nguyên du lịch, phá vỡ cảnh quan, môi trường, không còn bản sắc văn hóa dân tộc, khách không đến và mục đích kinh tế - xã hội cũng không đạt được. ở đây, cần một thái độ ứng xử có văn hóa cao với thiên nhiên. Năm nguyên tắc ứng xử tôn trọng và hài hòa với thiên nhiên, coi thiên nhiên là sản phẩm số một của du lịch, do Tổ chức Du lịch thế giới đề ra phải được coi trọng và tuân thủ.

Khi đã có quy hoạch, thì thiết kế xây dựng một khu du lịch cụ thể, yếu tố văn hóa cũng luôn được đặt lên hàng đầu. Đánh mất bản sắc văn hóa của cộng đồng địa phương, mọi sản phẩm du lịch dù hoàn thiện, sang trọng đến mấy cũng trở nên kém ý nghĩa. Du khách sẽ không bỏ tiền của, thời gian công sức để đi đến nơi xa xôi chỉ để trải nghiệm những thứ giống như ở nhà.

Di tích văn hóa, các công trình văn hóa là điểm đến được quan tâm hàng đầu của dòng khách du lịch. Việc trùng tu, nâng cấp, bảo tồn và phát huy các di tích, di sản này cần có tính hướng đích là thu hút khách du lịch. Giữ gìn, trùng tu di tích là để lưu truyền văn hóa cho muôn đời và để du khách bốn phương đến chiêm ngưỡng, qua đó mà lan toả, giao lưu văn hóa.

Thứ hai, du lịch khó áp dụng phương châm "hữu xạ tự nhiên hương". Có sản phẩm du lịch hấp dẫn, phải quảng bá, xúc tiến, giới thiệu công phu, khách mới đến. Sản phẩm du lịch cũng khác hàng hóa thương mại. Hàng hóa thương mại có thể đem ngay ra chợ bán. Du lịch chỉ có thể mang được hơi thở, phần hồn, hình ảnh của sản phẩm ra thị trường để mời gọi. Vì vậy, quảng bá du lịch phải rất có nghề và mang nội dung, hình thức văn hóa rất đặc trưng. Cần có cách thức kết hợp thật tốt để hai mặt này gắn bó với nhau. Mỗi sự kiện văn hóa, thể thao trong nước, quốc tế đều hướng tới mục tiêu thu hút khách du lịch. Mỗi “Ngôi nhà Việt Nam” ở nước ngoài, mỗi “Tuần văn hóa Việt Nam” ở đâu đó, mỗi đợt đi trình diễn văn hóa nghệ thuật, mỗi sự kiện thể thao quốc tế đều là một dịp quảng bá, xúc tiến du lịch.

Thứ ba, vấn đề quyết định là con người, là nguồn nhân lực và chất lượng nhân lực làm du lịch trong sự gắn bó kinh tế với văn hóa. Trong số gần 1 triệu lao động trực tiếp và gián tiếp làm du lịch hiện nay mới có 50% được đào tạo qua trường lớp. Đến năm 2010, nhu cầu lao động du lịch sẽ là 1,4 triệu. Nếu mục tiêu phát triển du lịch đạt cao hơn, con số này sẽ lớn hơn. Nhiệm vụ chuẩn bị nguồn nhân lực du lịch đang đặt ra rất khẩn trương, trên quy mô lớn. Các nhà đầu tư, các doanh nghiệp du lịch đã, đang chủ động triển khai kế hoạch đào tạo nhân lực cho mình. Hy vọng chiến lược nguồn lực du lịch sẽ được triển khai hiệu quả. Có điều đáng quan tâm liên quan đến chủ đề đang bàn là hàm lượng văn hóa - kinh tế cần có ở những người làm du lịch. Sự gắn bó văn hóa - kinh tế trước hết phải thể hiện ở từng lao động, cán bộ, nhân viên trong toàn ngành. Những nhân viên buồng, bàn, bar, bếp, lễ tân, trước hết phải tinh thông nghề nghiệp, nhưng đồng thời phải là người có văn hóa, trước nhất là văn hóa giao tiếp, ứng xử. Hướng dẫn viên du lịch Việt Nam phải là người Việt Nam, mang tâm hồn Việt Nam, giới thiệu, lan tỏa bản sắc văn hóa Việt Nam. Điều này đã được ghi thành luật. Nhưng cũng không hiếm trường hợp hướng dẫn viên giới thiệu sai lịch sử, văn hóa Việt Nam. Cán bộ quản lý kinh doanh du lịch ở các đơn vị, các cấp, bên cạnh trình độ quản lý, còn cần am hiểu văn hóa. Mỗi cán bộ du lịch đều là người tuyên truyền, giao lưu văn hóa Việt Nam.

Thứ tư, hiện nay, du lịch được gắn với văn hóa - thể thao trong một bộ. Hy vọng kỳ này không phải là sự lặp lại như cũ mà là đường xoắn ốc đi lên. Thành lập bộ đa ngành không phải là phép cộng đơn thuần mà là phép nhân sức mạnh. Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch có điều kiện phát huy sức mạnh tổng hợp của cả ba ngành nhằm phát triển du lịch. Bộ sẽ làm được nhiều điều mà trước đây một mình Tổng cục Du lịch không đủ điều kiện và không có chức năng thực hiện. Văn hóa - kinh tế thể hiện gắn bó chặt chẽ ngay trong từng yếu tố cấu thành, từng đơn vị cơ sở đến các cấp quản lý, đặc biệt là sự gắn kết chặt chẽ trong quảng bá xúc tiến văn hóa - du lịch.

TS.Phạm Từ

Nguồn: Tạp chí Cộng sản

(16321 Lượt xem)

CÁC TIN BÀI KHÁC:
Ngôn ngữ Ngôn ngữ
English (United States) Tiếng Việt (Việt Nam)
Hoạt động nghiên cứu khoa học Hoạt động nghiên cứu khoa học
Tin hoạt động khoa học tháng 07 năm 2018 (13/8/2018)

Tin hoạt động khoa học tháng 06 năm 2018 (9/7/2018)

Tin hoạt động khoa học tháng 05 năm 2018 (11/6/2018)


Số lượt truy cập Số lượt truy cập
18037466