CÁC KHU VỰC KINH TẾ CÁC KHU VỰC KINH TẾ
Một số vấn đề lý‎ luận và thực tiễn về phát triển kinh tế tư nhân ở nước ta

Công cuộc đổi mới toàn diện ở nước ta đã trải qua hơn 2 thập niên, đã giành được những thắng lợi về kinh tế, chính trị, xã hội, đối ngoại, an ninh quốc phòng, tạo thế vững chắc để nước ta vững bước trên con đường xây dựng nền kinh tế thị trường dịnh hướng XHCN, vì hạnh phúc của nhân dân.

Trong thắng lợi to lớn có tính chiến lược đó phải kể đến tác động của chính sách cơ cấu kinh tế nhiều thành phần nói chung và quan điểm, chính sách đối với kinh tế tư nhân nói riêng, từ đó tạo nền tảng và căn cứ để đổi mới cơ chế quản lý kinh tế cho phù hợp với cơ chế thị trường và hội nhập kinh tế quốc tế. Trong những năm đổi mới vừa qua, kinh tế tư nhân là một vấn đề gay cấn, lúng túng, gây tranh cãi nhiều nhất, đụng chạm đến những vấn đề chính trị - xã hội như định hướng XHCN, đảng viên làm kinh tế, bóc lột và bị bóc lột, phân hóa giàu nghèo, v.v.. Tuy nhiên, với sự nhất quán trong đường lối đổi mới của Đảng, với phương châm nhìn thẳng vào sự thật, tôn trọng sự thật, nói đúng sự thật, cùng với sự nỗ lực của các nhà lý luận, các nhà quản lý và sự hưởng ứng của toàn dân, cho tới nay, kinh tế tư nhân đã được hồi phục, phát triển và trở thành một lực lượng kinh tế lớn mạnh, góp phần vào công cuộc đổi mới nhằm xây dựng nền kinh tế thị trường định hướng XHCN. Có thể nói, cho tới nay không còn một người nào, dù là bảo thủ nhất, còn nghi ngờ và phủ nhận vai trò của kinh tế tư nhân ở nước ta, nhưng những vướng mắc về lý luận liên quan đến kinh tế tư nhân vẫn chưa được làm sáng tỏ, giải quyết dứt điểm. Đây là vấn đề không đơn giản. Mong muốn của bài viết này là muốn góp một suy nghĩ nhỏ bé vào những bức xúc trong công tác lý luận của Đảng hiện nay có liên quan đến kinh tế tư nhân.

Một là, nhận dạng và đánh giá kinh tế tư nhân nước ta. Trước thời kỳ đổi mới, đường lối kinh tế của Đảng ta là xây dựng một nền kinh tế quá độ đi lên CNXH với cơ cấu kinh tế một thành phần – XHCN – gồm hai bộ phận, quốc doanh và tập thể, được quản lý theo cơ chế kế hoạch hóa tập trung, còn các thành phần kinh tế khác được gọi là phi XHCN, được nằm trong diện cải tạo và xóa bỏ, để tiến tới một nền kinh tế thuần khiết, do đó phạm trù kinh tế tư nhân không còn tồn tại trong lý luận và trong đời sống thực tiễn.

Ngay cả tại Đại hội VI của Đảng, khởi xướng công cuộc đổi mới và đề ra chính sách kinh tế nhiều thành phần nhưng tư tưởng cải tạo, xóa bỏ các thành phần kinh tế không được coi là XHCN vẫn được nhấn mạnh. Văn kiện Đại hội VI đã ghi rõ: “đi đôi với việc phát triển kinh tế quốc doanh, kinh tế tập thể, tăng cường nguồn tích lũy tập trung của Nhà nước và tranh thủ vốn nước ngoài, cần có chính sách sử dụng và cải tạo đúng đắn các thành phần kinh tế khác”(1) . Kinh tế tư nhân mặc dù vẫn tồn tại và hoạt động trong nền kinh tế quốc dân nhưng không còn tên gọi, bị cấm kỵ, thành kiến và bị xa lạ không chỉ trong các văn kiện của Đảng và Nhà nước mà cả trong các phương tiện thông tin đại chúng và trong cuộc sống đời thường. Nó được gọi dưới các tên hợp thời hơn như kinh tế ngoài quốc doanh, kinh tế phi XHCN, kinh tế tư bản tư nhân… Tuy nhiên, thực tiễn vẫn là tiêu chuẩn của chân lý, tư duy lý luận và quan điểm đường lối cũng không thể né tránh hiện thực xa hội, nên trước sự phát triển khách quan của kinh tế tư nhân, các văn kiện của Đảng đã từng bước đề cập tới kinh tế tư nhân.

Nghị quyết 16 của Bộ Chính trị khóa VI (15-7-1988) và Nghị quyết Hội nghị Trung ương 6 khóa VI tiếp tục khẳng định đường lối đổi mới, nhất quán thực hiện chính sách kinh tế nhiều thành phần, khẳng định kinh tế tư nhân được phát triển không hạn chế địa bàn, quy mô, trong các ngành nghề mà pháp luật không cấm. Cũng trong năm 1988, Nghị quyết 10 của Bộ Chính trị (khóa VI) xác định hộ nông dân là đơn vị kinh tế tự chủ, từ đó đổi mới cơ bản cách thức quản lý hợp tác xã nông nghiệp đã tạo động lực cho kinh tế tư nhân trong nông nghiệp hồi phục và phát triển năng động, bước đầu chuyển sang sản xuất hàng hóa. Đó là bước khởi đầu đáng quý đối với kinh tế tư nhân nước ta, mở đường cho những bước đột phá mạnh hơn sau này. Từ Đại hội VII và đặc biệt từ Hội nghị Trung ương 2 khóa VII (1922) kinh tế tư nhân đã được coi trọng và khuyến khích phát triển, trong đó nhấn mạnh: “Bổ sung, sửa đổi thể chế nhằm đảm bảo cho kinh tế tư nhân được phát huy không hạn chế về quy mô và địa bàn hoạt động trong những lĩnh vực mà pháp luật không cấm; được tự do lựa chọn hình thức kinh doanh, kể cả liên doanh với nước ngoài theo những điều kiện do luật định”(2).

Trong điều kiện phát triển kinh tế thị trường và hội nhập kinh tế quốc tế ngày càng sâu rộng, kinh tế tư nhân ngày càng chứng tỏ được sức mạnh, là một trong các động lực phát triển đất nước, đến Hội  nghị Trung ương 5 khóa IX, lần đầu tiên, vấn đề phát triển kinh tế tư nhân đã được đưa ra thảo luận trong một chuyên đề riêng và ra Nghị quyết Về tiếp tục đổi mới cơ chế, chính sách khuyến khích và tạo điều kiện phát triển kinh tế tư nhân. Đây là một bước tiến đáng kể về tư duy lý luận và quan điểm, đường lối kinh tế của Đảng ta, thể hiện tính nhất quán của đường lối đổi mới theo hướng kinh tế thị trường và hội nhập kinh tế quốc tế, đã tạo nên động lực và sự yên tâm cho các doanh nhân và nhà đầu tư được tự do kinh doanh theo pháp luật.

Về mặt quản lý nhà nước, sự phát triển kinh tế tư nhân từng bước được thể chế hóa bằng các nghị định và một số bộ luật, trong đó phải kể đến Luật Doanh nghiệp 1999 có hiệu lực từ 1-1-2000, tồn tại song song với Luật Doanh nghiệp Nhà nước, trong đó quy định về việc thành lập, tổ chức quản lý và hoạt động của công ty trách nhiệm hữu hạn, công ty cổ phần, công ty hợp danh, doanh nghiệp tư nhân…, là các hình thức tổ chức doanh nghiệp thuộc khu vực kinh tế tư nhân. Sau 5 năm thực hiện, hai bộ luật này đã được thống nhất chung vào Luật doanh nghiệp 2005, có hiệu lực từ 1-7-2006, cùng các bộ luật có liên quan như Luật Đất đai, Luật Đàu tư, Luật Thương mại… được sửa đổi, bổ sung theo hướng thống nhất hóa về mặt pháp luật, bảo đảm sự bình đẳng trước pháp luật đối với các thành phần kinh tế.

Nhờ sự khơi thông về mặt lý luận và mở đường về đường lối, cơ chế, chính sách mà kinh tế tư nhân nước ta vốn có sức sồng bền bĩ, năng động đã được phát triển với tốc độ khá cao, trở thành một trong những lực lượng kinh tế chủ yếu của nền kinh tế quốc dân. Đánh giá về vai trò của kinh tế tư nhân, Hội nghị Trung ương 5 khóa IX khẳng định:”Kinh tế tư nhân là bộ phận cấu thành quan trọng của nền kinh tế quốc dân. Phát triển kinh tế tư nhân là vấn đề chiến lược lâu dài trong phát triển nền kinh tế nhiều thành phần định hướng xã hội chủ nghĩa, góp phần quan trọng thực hiện thắng lợi nhiệm vụ trung tâm là phát triển kinh tế, công nghiệp hóa, hiện đại hóa, nâng cao nội lực của đất nước trong hội nhập kinh tế quốc tế”(3). Văn kiện Hội nghị Trung ương 9 khóa IX cũng đánh giá một cách lạc quan: ”Khu vực kinh tế tư nhân có những bước phát triển vượt bậc so với những năm trước đây, đóng góp nhiều cho việc tạo việc làm mới, tăng thu nhập cho người lao động và cho ngân sách nhà nước“(4). S phát triển vượt bậc đó được thể hiện trên các số liệu chủ yếu sau đây: Từ đầu năm 2000, tức là từ khi Luật doanh nghiệp 1999 có hiệu lực thi hành đến tháng 9-2003 đã có 72.600 doanh nghiệp đăng k‎ý kinh doanh với số vốn đăng ký trên 9,5 tỷ USD, tức là gấp 1,7 lần về số doanh nghiệp và gấp hơn 4 lần về vốn đăng ký so với giai đoạn 10 năm trước đó (1991-1999). Vốn đầu tư năm 2005 của khu vực dân doanh đã lên đến 32,4% tổng vốn đầu tư toàn xã hội (vốn đầu tư nhà nước chiếm 53,1%, vốn đầu tư nước ngoài 14,5%); Theo Báo cáo của Thủ tướng Chính phủ tại Kỳ họp thứ 11 Quốc hội khóa XI ngày 20-3-2007 thì vốn đầu tư toàn xã hội năm 2006 đạt 393,5 nghìn tỷ đồng, bằng 40,4% GDP; trong đó vốn đầu tư thuộc ngân sách nhà nước đạt 86,4 nghìn tỷ đồng, vốn tín dụng đầu tư phát triển của Nhà nước đạt 26,3 nghìn tỷ đồng, vốn đầu tư của các doanh nghiệp nhà nước đạt 61,1 nghìn tỷ đồng, vốn đầu tư của dân cư và doanh nghiệp tư nhân đạt 132,6 nghìn tỷ đồng, vốn đầu tư của doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài đạt 65,6 nghìn tỷ đồng; các nguồn vốn khác đạt 21 nghìn tỷ đồng, tức là vốn đầu tư của kinh tế tư nhân đạt 31% tổng số vốn đầu tư toàn xã hội, trong khi vốn đầu tư nước ngoài tăng mạnh, đạt 17,2% so với 14,5% năm 2005. Số việc làm năm 2003 trong khu vực kinh tế tư nhân khoảng 6 triệu người, chiếm 16% lực lượng lao động xã hội (không tính số lao động trong nông nghiệp), cơ cấu lao động khu vực dân doanh năm 2005 chiếm tới 88,8% (nhà nước – 9,6%, đầu tư nước ngoài -1,6% ). Từ năm 2002 đến năm 2006, có khoảng 170 nghìn doanh nghiệp đăng ký thành lập mới, số doanh nghiệp gia nhập thị trường tăng bình quân mỗi năm khoảng 17%. Hiện nay, đầu tư của các doanh nghiệp dân doanh chiếm gần 34% trong tổng đầu tư xã hội, tạo ra 49% việc làm phi nông nghiệp ở nông thôn. Hằng năm, các doanh nghiệp nhỏ và vừa đã tiếp nhận hơn 90% số lao động mới. Các doanh nghiệp dân doanh, kinh tế hợp tác, kinh tế hộ đã tạo ra 45% GDP (5). Đóng góp của kinh tế tư nhân vào GDP và tăng trưởng GDP cũng có sự vượt trội. Trong khi tỷ lệ đóng góp của kinh tế nhà nước giảm từ 40,2% năm 1995 xuống còn 39,2% năm 2004, kinh tế tập thể giảm tương ứng từ 10,1% xuống còn 7,1% thì kinh tế tư nhân (chưa tính kinh tế cá thể) tăng tương ứng từ 6,3% lên 15,2%. Tốc độ tăng trưởng GDP của kinh tế tư nhân cũng cao hơn tốc độ tăng trưởng chung: năm 2000 tăng 9,7% so với 6,79%, con số tương ứng năm 2001: 13,43% / 6,89%; năm 2002: 12,02% / 7,08%; năm 2003: 10,2% / 7,34%; năm 2004: 11,9% / 7,69%. Ngoài những con số biết nói đã nêu, kinh tế tư nhân còn có những đóng góp quan trọng như: góp phần đáp ứng nhu cầu tiêu dùng ngày càng tăng của toàn xã hội nhờ hàng hóa và dịch vụ ngày càng tăng cả về lượng và chất; nâng cao sức cạnh tranh của nền kinh tế, làm cho hoạt động kinh tế năng động hơn; mở rộng thị trường trong nước ra thị trường thế giới, đặc biệt làm cho thị trường chứng khoán sôi động hẳn lên; góp phần xóa đói, giảm nghèo; hình thành đội ngũ doanh nhân tài giỏi, có chí, có tâm huyết và năng lực kinh doanh vì mục tiêu dân giàu,  nước mạnh, biết tự mình làm giàu chân chính, góp phần xây dựng đất nước mạnh giàu; có ảnh hưởng và tác động tới hệ thống chính trị- xã hội theo hướng dân chủ hóa, thúc đẩy quá trình cải cách hành chính nhà nước, tạo sự đồng thuận xã hội, góp phần xây dựng khối đoàn kết toàn dân.

Những thành tựu và tiến bộ của khu vực kinh tế tư nhân dưới sự lãnh đạo của Đảng và quản lý của Nhà nước là quá rõ ràng và không thể phủ nhận. Tuy nhiên, không chỉ thấy mặt tích cực của kinh tế tư nhân mà không thấy mặt hạn chế, tiêu cực của nó, đó là năng lực kinh tế còn nhỏ bé, trình độ công nghệ và quản lý kinh doanh phần lớn còn yếu kém, sức cạnh tranh còn yếu, còn nhiều tiêu cực trong kinh doanh. Mặt khác, sự phát triển kinh tế tư nhân vẫn còn gặp nhiều vướng mắt, lúng túng cả về tư duy lý luận, quan điểm, chính sách đến thực tiễn, như Nghị quyết Trung ương 5 khóa IX đã nêu: “Quan điểm của Đảng trên một số vấn đề cụ thể về phát triển kinh tế tư nhân chưa được làm rõ để có sự thống nhất cao. Một số cơ chế, chính sách của Nhà nước chưa phù hợp với đặc điểm của kinh tế tư nhân đại bộ phận có quy mô nhỏ và vừa; quản l‎ý có phần buông lỏng và có nhiều sơ hở, hạn chế việc thúc đẩy kinh tế tư nhân phát triển đúng hướng”(6). Tới nay, sau 5 năm thực hiện Nghị quyết Trung ương 5 khóa IX về cơ bản nhận định đó vẫn còn giá trị.

Hiện nay, nhận thức và quan niệm về kinh tế tư nhân trong xã hội vẫn còn chưa thống nhất. Mặc dù những thuật ngữ trước đây tới nay không còn phù hợp, như kinh tế ngoài quốc doanh hoặc kinh tế phi XHCN, nhưng hiện nay trong xã hội vẫn còn quan niệm cho rằng kinh tế tư nhân là kinh tế tư bản tư nhân, trong khi cho tới nay chúng ta vẫn chưa xác định được tiêu chí thế nào là tư bản tư nhân, nên còn gây ra mặc cảm đối với các chủ doanh nghiệp tư nhân.

Hai là, phát triển kinh tế tư nhân với vấn đề bóc lột và bị bóc lột. Mục tiêu của Đảng Cộng sản là xây dựng một chế độ xã hội ấm no, công bằng, văn minh, không có người bóc lột người mà như Hồ Chí Minh và Đảng ta đã tổng kết là dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh. Đó là mục tiêu bất di bất dịch, cho cả trước đây, hiện nay và sau này. Trước đây, do những hạn chế về lý luận và nắm bắt thực tin, với tư duy đơn giản, chúng ta cứ nghĩ rằng cứ xóa bỏ tư nhân là xóa được bóc lột, xây dựng kinh tế chỉ có quốc doanh, tập thể là không có bóc lột và như vậy sẽ xây dựng thành công CNXH, do đó đảng viên cộng sản không được làm kinh tế tư nhân vì như vậy là đi vào con đường bóc lột. Hoặc tồn tại tư duy đơn giản là hễ làm chủ tư nhân là bóc lột, làm thuê là bị bóc lột. Những cách suy nghĩ và tư duy máy móc như thế không phải không còn ở một số người hiện nay. Tôi xin được trình bày một vài hiện tượng thực tiễn sau đây:

-         Hiện nay, trên đường phố các thành thị, đặc biệt là ở Hà Nội và thành phố Hồ Chí Minh có rất nhiều người mong chờ để được “bóc lột”, tức là được làm thuê cho một ông chủ nào đó và nếu được thuê làm việc gì thì họ cũng hết sức cảm ơn người đã “bóc lột” mình và họ sẵn sàng, tự nguyện để “bị bóc lột”.

-         Xuất khẩu lao động là một chủ trương lớn của Đảng và Nhà nước ta đưa lao động đi làm thuê ở nước ngoài để có thu nhập cao hơn nhiều lần ở trong nước, góp phần xóa đói giảm nghèo, thực chất là đi làm thuê, mà lại làm thuê cho tư bản. Không phải bất cứ ai cũng có thể đi làm thuê cho tư bản nếu không có trình độ, năng lực, tay nghề và đóng tiền hàng chục triệu đồng để được đi xuất khẩu lao động, để chịu “bị bóc lột”.

-         Hiện nay ở nước ta đã hình thành các công ty thuộc các thành phần kinh tế, trong hoạt động thường làm thuê cho nhau. Các công ty nhà nước làm thuê cho nhau, các công ty tư nhân làm thuê cho nhau, công ty tư nhân làm thuê cho công ty Nhà nước và ngược lại. Khi nhận được công việc làm thuê, các công ty lại thuê người khác làm việc cho mình hoặc đi làm thuê tiếp, phải chăng là họ bóc lột lẫn nhau hay đó là sự phân công, hợp tác mà trước đây C.Mác đã phân tích rất sâu trong Bộ Tư bản. Hiện nay trong nông thôn nước ta sau khi chuyển đổi hợp tác xã đã hình thành các tổ dịch vụ, có thể của tập thể hoặc của tư nhân, họ đi làm thuê cho các hộ nông dân tự chủ, nông dân là chủ, có khi cũng chẳng có giàu có gì, còn người hoạt động dịch vụ là làm thuê, có riêng máy kéo, không chỉ một chiếc mà dăm ba chiếc, phải thuê lao động để đi làm thuê cho các hộ nông dân. Hoặc hộ nông dân thuê lao động làm ruộng cho mình để mình đi làm thuê nơi khác có thu nhập cao hơn. Như vậy thì ai bóc lột ai? Thật khó trả lời một cách rành rọt.

Ba là, vấn đề đảng viên làm kinh tế tư nhân. Vấn đề đảng viên làm kinh tế tư nhân đã được đặt ra và tranh luận từ những năm đầu của thập niên 90 thế kỷ trước, tới Hội nghị Trung ương 3 khóa X đã thảo luận và đã thông qua “Quy định đảng viên làm kinh tế tư nhân” theo tinh thần bảo đảm tuân thủ đầy đủ quy định của Điều lệ Đảng, nghị quyết, quyết định của Đảng và các quy định của pháp luật, cơ chế, chính sách của Nhà nước, đồng thời phải nêu cao tính tiền phong gương mẫu của người đảng viên trong mọi lĩnh vực, để vừa phát huy được khả năng làm kinh tế của đảng viên, vừa giữ được tư cách, phẩm chất của đảng viên, giữ vững bản chất cách mạng của Đảng. Quy định này cho thấy Đảng ta rất thận trọng đối với vấn đề hết sức nhạy cảm này, đã mở đường cho đảng viên ra kinh doanh hợp pháp. Trước đây, có nhiều đảng viên đã cống hiến cả tuổi trẻ và xương máu của mình cho sự nghiệp đấu tranh cách mạng, chống kẻ thù xâm lược, sau khi hòa bình lập lại đã đi đầu trong phát triển kinh tế, bỏ vốn ra để lập doanh nbghiệp, bươn trải trên thương trường, có thắng, có thua, nhiều người vượt qua thử thách đã ăn nên làm ra, tạo nhiều việc làm cho xã hội, làm ra nhiều hàng hóa và dịch vụ cho đất nước, đóng góp vào ngân sách nhà nước, mở rộng thị trường trong nước và vươn ra thị trường thế giới, bản thân trở thành người giàu có, và chính họ đã góp sức vào thành công của công cuộc đổi mới của Đảng. Nhưng do những quy định cứng nhắc đảng viên không được làm kinh tế tư nhân, họ phải chọn một trong hai con đường, hoặc là ra khỏi đảng để tiếp tục kinh doanh, hoặc vẫn là đảng viên thì phải từ bỏ kinh doanh, và nhiều đảng viên là doanh nhân đã chọn con đường thứ nhất, ra khỏi Đảng để giữ lấy doanh nghiệp. Tuy không còn là đảng viên nhưng họ vẫn giữ phẩm chất, đạo đức và trách nhiệm không kém những đảng viên của Đảng. Cho phép đảng viên làm kinh tế tư nhân chính là động lực để thúc đẩy phát triển kinh tế - xã hội, phát huy tiềm năng của đảng viên, xóa bỏ mặc cảm của xã hội đối với kinh tế tư nhân.

Bốn là, làm giàu bằng phát triển kinh tế tư nhân và vấn đề công bằng xã hội. Mục tiêu của phát triển đất nước ta trước mắt cũng như lâu dài là dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ và văn minh. Điều đó là hiện thực. Để thực hiện mục tiêu đó thì phải huy động được mọi tiềm năng của đất nước từ con người, tài nguyên, trí tuệ, truyền thống văn hóa, điều kiện quốc tế…phục vụ cho phát triển kinh tế - xã hội có lợi nhất cho quốc kế dân sinh. Điều đó phụ thuộc chủ yếu vào đường lối và chính sách của Đảng và Nhà nước. Trước đây trong thời bao cấp, do những điều kiện lịch sử và những hạn chế chủ quan, chúng ta không khuyến khích làm giàu mà muốn xây dựng một xã hội bình đẳng, công bằng tuyệt đối theo kiểu “cào bằng”, “chia đều cái nghèo” dẫn tới một xã hội khan hiếm. Thực hiện đường lối đổi mới, Đảng khuyến khích mọi người làm giàu hợp pháp đi đôi với xóa đói, giảm nghèo, đã xuất hiện những doanh nhân có tài, có tâm, có tầm và trở thành những người giàu thực sự, có tài sản hàng nghìn tỷ đồng. Vừa qua các phương tiện thông tin đại chúng đã công bố danh sách 100 người giàu nhất cả nước dựa trên số cổ phiếu mà họ nắm giữ, tuy tiêu chí này còn phải bàn thêm, và còn nhiều người giàu còn ẩn danh, nhưng cũng nói lên sự trỗi dậy của những người có đầu óc kinh doanh, biết làm giàu cho mình và góp phần làm giàu cho đất nước, cần được tôn vinh. Vấn đề đặt ra là, sự phân hóa giàu nghèo rõ rệt như vậy liệu có ảnh hưởng gì đến việc thực hiện mục tiêu công bằng xã hội không? Công bằng xã hội trước hết phải là công bằng về cơ hội, Đảng và Nhà nước đã cố gắng tạo mọi cơ hội cho mọi người làm ăn, còn khai thác cơ hội, tính toán chi phí cơ hội như thế nào cho có lợi hại phụ thuộc vào từng con người cụ thể, mà trình độ, năng lực của những con người trong xã hội lại rất khác nhau. Ngoài ra, còn phải kể đến yếu tố may rủi và tác động của khách quan. Như vậy, sự phân hóa giàu nghèo trong kinh tế thị trường là khách quan, Nhà nước thực hiện công bằng xã hội bằng công cụ điều tiết và chính sách xóa đói, giảm nghèo, nhưng điều tiết mà không triệt tiêu động lực làm giàu; xóa đói, giảm nghèo mà không tạo nên tâm lý ỷ lại, dựa dẫm, sinh ra lười biếng. Có như vậy mới đảm bảo được công bằng xã hội.

Năm là, về mối quan hệ giữa Nhà nước và kinh tế tư nhân. Trong nền kinh tế thị trường, Nhà nước vừa đóng vai trò chủ thể quản lý nền kinh tế thị trường, trong đó có khu vực kinh tế tư nhân, đồng thời Nhà nước cũng là đối tác của kinh tế tư nhân. Với tư cách là chủ thể quản lý đối với kinh tế tư nhân, Nhà nước ban hành luật pháp; ban hành và thực hiện cơ chế quản lý phù hợp với cơ chế thị trường và luật pháp quốc tế, hỗ trợ (không phải là bảo hộ) các doanh nghiệp, nhất là doanh nghiệp vừa và nhỏ và hộ nông dân; kiểm tra, kiểm soát mọi hoạt động kinh tế của các thành phần kinh tế; mở rộng quan hệ kinh tế đối ngoại, tạo điều kiện cho kinh tế tư nhân vươn ra thị trường thế giới. Trong mối quan hệ này, Nhà nước là chủ thể quản lý nhưng phải tôn trọng quyền làm chủ của nhân dân, phục vụ nhân dân, những tổ chức và cá nhân đại diện cho chủ thể quản lý không được gây phiền hà cho doanh nhân để hưởng lợi bất chính.

Với tư cách là đối tác của kinh tế tư nhân, nhà nước đóng hai vai trò, vừa là khách hàng, hộ tiêu dùng lớn của kinh tế tư nhân (trước đây chỉ có doanh nghiệp nhà nước), vừa là đối tác liên doanh, hợp tác thông qua các doanh nghiệp nhà nước. Trong mối quan hệ đối tác, kinh doanh theo cơ chế thị trường, quan hệ giữa các cơ quan nhà nước và doanh nghiệp nhà nước là quan hệ bình đẳng trước pháp luật, quan hệ hợp tác và cạnh tranh cùng có lợi.

Sáu là, kinh tế tư nhân với việc xây dựng nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa. Đây là một bài toán khó, chưa có lời giải có sức thuyết phục. Nước ta thực hiện đường lối đổi mới, thực hiện chính sách kinh tế nhiều thành phần, phát triển kinh tế thị trường trong điều kiện mở cửa, hội nhập, định hướng đi lên CNXH, vì thế phải thay đổi tư duy và quan niệm về mô hình CNXH, đó là CNXH trong điều kiện kinh tế tư nhân không ngừng phát triển, mở rộng thị trường và hội nhập kinh tế quốc tế. Chính từ thực tiễn đó, nhất quán thực hiện chính sách kinh tế nhiều thành phần, khuyến khích phát triển kinh tế tư nhân, Đảng ta đã khẳng định quan điểm phát triển kinh tế tư nhân là vấn đề chiến lược lâu dài trong phát triển nền kinh tế nhiều thành phần định hướng xã hội chủ nghĩa(7) nhưng đồng thời trong văn kiện của Đảng cũng thể hiện quan điểm “Trong thời kỳ quá độ, có nhiều hình thức sở hữu về tư liệu sản xuất, nhiều thành phần về kinh tế…”, “Chế độ sở hữu công cộng (công hữu) về tư liệu sản xuất chủ yếu từng bước được xác lập và sẽ chiếm ưu thế tuyệt đối khi chủ nghĩa xã hội được xây dựng xong về cơ bản”; và “Kinh tế nhà nước giữ vai trò chủ đạo; kinh tế nhà nước cùng với kinh tế tập thể ngày càng trở thành nền tảng vững chắc” (8). Nhiều người băn khoăn rằng hết thời kỳ quá độ có còn nền kinh tế nhiều thành phần không. Thực ra, cho tới nay khó mà đoán chắc bao giờ hết thời kỳ quá độ, bao giờ xây dựng thành công CNXH ở nước ta, và trên thực tế tỷ trọng kinh tế nhà nước và kinh tế tập thể ngày một giảm, Chính phủ lại đang đẩy mạnh cổ phần hóa doanh nghiệp nhà nước, kể cả những tổng công ty và tập đoàn kinh tế nhà nước lớn. Đây là những vấn đề lớn và phức tạp cần được tiếp tục nghiên cứu, nhưng trên thực tế đã dẫn tới tình hình: “không ít cán bộ, đảng viên còn băn khoăn về cơ sở lý luận của một số vấn đề về đường lối xây dựng chủ nghĩa xã hội ở nước ta”(9). Văn kiện của Đảng, qua các kỳ đại hội đều nói rằng, con đường đi lên CNXH ở nước ta ngày càng sáng tỏ nhưng đồng thời cũng nhấn mạnh ”nhận thức về chủ nghĩa xã hội và con đường đi lên chủ nghĩa xã hội mới dừng lại ở những nét khái quát chung, còn không ít vấn đề cụ thể đặt ra từ thực tiễn chưa có lời giải đáp hoặc giải đáp chưa đủ sức thuyết phục”(10). Văn kiện Đại hội X của Đảng đã đề ra nhiệm vụ: “Tiếp tục đổi mới tư duy, tăng cường tổng kết thực tiễn, nghiên cứu lý luận, kịp thời làm sáng tỏ hơn những vấn đề bức xúc về chủ nghĩa xã hội và con đường đi lên chủ nghĩa xã hội ở nước ta; về kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa”. Tất cả những điều đó phản ánh thực tế khách quan của những bất cập về l‎ý luận xây dựng CNXH ở nước ta, đòi hỏi sự tập trung cao độ để nghiên cứu làm sáng tỏ. Vấn đề đặt ra hiện nay là phải tạo ra sự nhất trí trong Đảng, sự thông suốt trong đảng viên và sự đồng thuận xã hội, nhằm tạo niềm tin và sự yên tâm thực sự đối với các nhà đầu tư tư nhân và các doanh nhân có tiềm lực bỏ vốn ra kinh doanh nhằm mục tiêu ích nước, lợi nhà, phục vụ mục tiêu dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh, đó chính là mục tiêu của CNXH mà chúng ta đang ra sức xây dựng.

------------------------

(1)   ĐCSVN: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VI, NXB Sự thật, H., 1987, tr.56.

(2)   ĐCSVN: Văn kiện Hội nghị lần thứ hai Ban chấp hành Trung ương khóa VII, NXB CTQG, H., 1993, tr.75.

(3), (6), (10) ĐCSVN: Văn kiện Hội nghị lần thứ năm Ban chấp hành Trung ương khóa IX, NXB CTQG, H., 2002, tr. 57-58, 56, 131-132.

(4), (9) ĐCSVN: Văn kiện Hội nghị lần thứ chín Ban chấp hành Trung ương khóa IX, NXB CTQG, H., 2004, tr. 23-24, 118-119.

(5) Theo báo Nhân Dân điện tử ngày 21-3-2007.

(7) ĐCSVN: Văn kiện Hội nghị lần thứ hai Ban chấp hành Trung ương khóa VII, NXB CTQG, H., 1993, tr. 57.

(8) ĐCSVN: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốclần th IX, NXB CTQG, H., 2001, tr. 85-87.

GS. TS. HỒ VĂN VĨNH
Viện Quản lý Kinh tế, Học viện CTQG Hồ Chí Minh

Biên tập và tổng hợp từ nguồn "Tạp chí L‎ý luận Chính trị 5/2007"

 

(31164 Lượt xem)

CÁC TIN BÀI KHÁC:
Ngôn ngữ Ngôn ngữ
English (United States) Tiếng Việt (Việt Nam)
Hoạt động nghiên cứu khoa học Hoạt động nghiên cứu khoa học
Tin hoạt động khoa học tháng 08 năm 2018 (11/9/2018)

Tin hoạt động khoa học tháng 07 năm 2018 (13/8/2018)

Tin hoạt động khoa học tháng 06 năm 2018 (9/7/2018)


Số lượt truy cập Số lượt truy cập
18284222