CÁC KHU VỰC KINH TẾ CÁC KHU VỰC KINH TẾ
Hướng phát triển của thị trường dịch vụ phân phối tại Việt Nam

Chính thức gia nhập WTO được hơn một năm, thị trường dịch vụ phân phối Việt Nam đã có bước phát triển mạnh mẽ. Nhưng, mở cửa cũng đồng nghĩa với việc các doanh nghiệp trong nước hoạt động trong lĩnh vực này sẽ đối mặt với vô vàn thách thức đặc biệt là sự canh tranh với các đại gia bán lẻ đã, đang và sẽ xâm nhập thị trường Việt Nam. Vậy đâu là hướng phát triển của thị trường này?

Thực trạng thị trường

    Tổng mức bán lẻ hàng hoá và doanh thu dịch vụ giai đoạn 2001 - 2006 đạt 2.319,5 ngàn tỷ đồng. Riêng năm 2006 đạt 580,7 ngàn tỷ tăng 20,9% so với năm 2005. Tính đến tháng 11/2007, tổng mức bán lẻ hàng hoá và doanh thu dịch vụ đạt 654.887 tỷ đồng. Cơ cấu đóng góp vào tổng mức bán lẻ hàng hoá và dịch vụ cả nước cũng có những chuyển dịch khá rõ nét qua các năm. Tỷ lệ đóng góp của khu vực quốc doanh có xu hướng giảm dần qua các năm và giảm từ 18,2% năm 2000 xuống còn 12,4% vào năm 2006. Tỷ lệ đóng góp của khu vực ngoài quốc doanh vẫn chiếm ưu thế và có xu hướng tăng nhẹ qua các năm, tăng từ 80,4% năm 2000 lên 83,6% năm 2006. Đóng góp của khu vực FDI có tỷ trọng nhỏ và có xu hướng tăng khá, tăng từ 1,4% năm 2000 lên 4% năm 2006.

    Các loại hàng hoá, dịch vụ lưu thông trên thị trường trong nước cũng ngày càng đa dạng, phong phú cả về chủng loại và cấp độ sản phẩm. Bên cạnh những hàng hoá được sản xuất trong nước thì cùng với quá trình mở cửa thị trường, ngày càng nhiều loại hàng hoá, dịch vụ được nhập khẩu từ nước ngoài về phục vụ nhu cầu sản xuất và tiêu dùng trong nước cũng đó tạo nên một thị trường nội địa hoạt động sôi động, đa dạng và nhiều màu sắc.

    Những năm gần đây, các chủ thể kinh doanh trên thị trường nội địa đã ngày càng đông đảo và đa dạng về thành phần tham gia.

    Các doanh nghiệp trong nước, bao gồm cả các doanh nghiệp nhà nước và các doanh nghiệp ngoài nhà nước, đều có những chuyển biến tích cực với sự hình thành và phát triển một số nhà phân phối lớn như Saigon Coopmark, Intimex, Maximart, Nguyễn Kim, Phú Thái... Đây là những nhà phân phối có trình độ khá chuyên nghiệp và mạng lưới hệ thống phân phối khá rộng trải đều trên nhiều tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương trong cả nước. Trong đó, các doanh nghiệp nhà nước nhìn chung có tiềm lực về tài chính và lợi thế về các cơ sở sản xuất hơn nên đóng vai trò vừa là nhà phân phối vừa là nhà sản xuất và thu mua hàng hoá để kinh doanh trong hệ thống phân phối của mình. Trong khi đó, các doanh nghiệp ngoài khu vực nhà nước chủ yếu tập trung vào hoạt động phân phối để tạo nên những hệ thống chuyên doanh phân phối mà thường không tham gia vào hoạt động sản xuất như nhiều doanh nghiệp nhà nước. Đây cũng là một trong những đặc điểm khá đặc thù của Việt Nam trong quá trình hình thành và phát triển hệ thống phân phối nói riêng và hoạt động kinh doanh trên thị trường nội địa nói chung.

    Tuy nhiên, nhìn chung các doanh nghiệp trong nước còn nhiều hạn chế về năng lực tài chính, công nghệ, kỹ năng tổ chức quản lý kinh doanh, trình độ đội ngũ cán bộ... so với các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài cùng hoạt động trong lĩnh vực này.

    Các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài: Các doanh nghiệp này có những lợi thế nổi trội so với các doanh nghiệp trong nước về năng lực tài chính, công nghệ, áp dụng các phương thức kinh doanh mới và đặc biệt là kinh nghiệm và trình độ tổ chức quản trị kinh doanh. Hầu hết họ đều là những tập đoàn lớn của thế giới, có bề dày kinh nghiệm hoạt động trong lĩnh vực này và đã thiết lập được một mạng lưới kinh doanh có tính chất toàn cầu. Vì vậy, sự có mặt của các tập đoàn này một mặt tạo nên áp lực lớn về cạnh tranh đối với các doanh nghiệp trong nước nhưng cũng là cơ hội tốt để hình thành một thị trường nội địa hoạt động lành mạnh, phát triển đa dạng và tiếp cận được trình độ hiện đại của thế giới.

    Thời gian qua đã xuất hiện cuộc đua kiểm soát kênh phân phối giữa các nhà phân phối trong và ngoài nước và  nổi lên trên hai lĩnh vực: dược phẩm và hàng tiêu dùng.

    Về dược phẩm, sau sự kiện Zuellig Pharma Việt Nam (ZPV), bất chấp hàng loạt chế tài mới và cam kết của các doanh nghiệp dược nước ngoài tại Việt Nam, giá thuốc lại rục rịch tăng. Các đại gia phân phối thuốc chuyển sang chiến lược tăng giá từ từ, mỗi ngày một ít. Điều này chứng tỏ, các biện pháp mạnh tay của Bộ Y tế đã chưa hoàn toàn phát huy tác dụng.

    Về hàng tiêu dùng, Bộ Kế hoạch và Đầu tư đã cấp phép cho ba Tập đoàn kinh doanh siêu thị nước ngoài là Metro Cash & Carry (Đức), Big C (Pháp) (Big Customer), Parkson (tập đoàn Lion Group-Malaysia). Metro mới được cấp phép kinh doanh bán buôn, Big C đã được cấp phép bán lẻ tại 4 siêu thị và Big C Thăng Long trở thành siêu thị bán lẻ lớn nhất Việt Nam với tổng số vốn đầu tư 12 triệu USD. Số lượng các điểm phân phối nhỏ lẻ sẽ giảm dần và được thay thế bằng các hình thức phân phối mới như siêu thị, trung tâm thương mại. Sự xuất hiện của các đại siêu thị góp phần vào việc giải quyết tình trạng lao động trình độ trung bình dư thừa ở các thành phố lớn. Người tiêu dùng sẽ được hưởng lợi từ các chương trình khuyến mại, được sử dụng hàng hóa có chất lượng ổn định, đảm bảo vệ sinh an toàn, còn các nhà phân phối trong nước có thể học hỏi được kinh nghiệm quản lý điều hành tiên tiến từ nước ngoài.

    Bên cạnh những đặc điểm nêu trên của các đối tượng tham gia kinh doanh trên thị trường nội địa nước ta thời gian qua, cũng có thể thấy một số nét khá riêng trong tính chất hoạt động của các đối tượng này, cụ thể như sau:

    Thứ nhất, các nhà sản xuất đồng thời là nhà phân phối. Đây thường là những doanh nghiệp có xuất phát là những nhà sản xuất hàng hoá lớn trong một số lĩnh vực khác nhau như điện, xi măng, sắt thép, may mặc, nước uống... Hiện nay ở nước ta hình thức này khá phổ biến và áp dụng với nhiều loại vật tư, hàng hóa như Thép Thái Nguyên, Thép Miền Nam, Xi măng Bỉm Sơn, Xi măng Hoàng Thạch, Xi măng Ching Foong Hải Phòng..., hay các  nhà  sản xuất  hàng  tiêu dùng  như  Coca Cola, Pepsi, Vinatex... Nhìn chung, đây là một dạng mô hình tổ chức kinh doanh phân phối đã phổ biến ở nhiều quốc gia trên thế giới. Đặc điểm chung trong cách thức tổ chức kinh doanh của mô hình này là nhà sản xuất ra hàng hoá thường phải là những nhà sản xuất lớn, có khả năng về nguồn lực để tự đứng ra thiết lập hệ thống phân phối riêng cho hàng hoá của mình sản xuất.

    Thứ hai, các nhà phân phối tổng hợp chuyên nghiệp. Thông thường, đây có thể là các doanh nghiệp trong nước hoặc doanh nghiệp FDI được thành lập không nhằm mục đích sản xuất để phân phối mà chỉ nhằm mục đích kinh doanh phân phối chuyên nghiệp. Do vậy, các doanh nghiệp này có thường là những nhà phân phối tổng hợp rất nhiều loại sản phẩm đa dạng khác nhau. Có thể kể đến một số nhà phân phối tổng hợp chuyên nghiệp hiện đang hoạt động tại Việt Nam như Phú Thái, Metro, Big C, Parkson... Đặc điểm của các nhà phân phối này tính chuyên nghiệp trong hoạt động tổ chức kinh doanh rất cao và thường chiếm giữ một thị phần áp đảo trong kinh doanh phân phối. Khả năng thay đổi một cách linh hoạt trong phương thức kinh doanh cũng như tiếp cận khách hàng của những doanh nghiệp này là rất lớn. Do vậy, đây sẽ là bộ phận quan trọng tác động đến sự phát triển của thị trường trong nước nói chung và hoạt động phân phối hàng hoá nói riêng của Việt Nam trong thời gian tới.

    Thứ ba, các nhà phân phối chuyên ngành. Thực chất đây là hình thức giao thoa giữa hai nhóm đối tượng vừa nêu trên. Các nhà phân phối chuyên ngành có thể là các nhà sản xuất (hoặc nhập khẩu) hàng hoá để phân phối, cũng có thể là những nhà phân phối chuyên nghiệp nhưng chỉ tập trung vào kinh doanh một  hoặc một nhóm hàng có tính chất đặc thù như xăng dầu, điện máy, vật liệu xây dựng, mỹ phẩm... Tuy nhiên, đặc điểm riêng của nhóm các nhà phân phối chuyên ngành này là có tính chuyên biệt về mặt hàng phân phối rất cao. Do vậy, cách thức tổ chức hệ thống phân phối của nhóm đối tượng này cũng có những sự khác biệt đáng kể so với những nhà phân phối khác, đặc biệt là đối với những nhà phân phối tổng hợp chuyên nghiệp.

    Nhà nước: nhà quan sát hay trọng tài?

    Có thể nói, ngành phân phối là ngành rất nhạy cảm trong nền kinh tế nước ta vì nó ảnh hưởng đến cuộc sống của hàng triệu người bán hàng và hàng chục triệu người tiêu dùng, đặc biệt là hệ thống phân phối của một số mặt hàng thiết yếu. Ngay cả một số quốc gia có trình độ phát triển kinh tế cao như Nhật Bản, ấn Độ cũng có xu hướng bảo hộ ngành phân phối của mình rất chặt chẽ. Ví dụ, hệ thống phân phối ở Nhật Bản được tổ chức theo kiểu khép kín giữa nhà sản xuất và các nhà bán buôn bán lẻ và có xu hướng bài ngoại, hàng hóa Nhật Bản xuất hiện khắp nơi trên thế giới nhưng hàng của các nước khác rất khó khăn để có thể len chân vào hệ thống phân phối của Nhật Bản.

    Hiện nay, ở nước ta, tốc độ tăng chóng mặt của chỉ số giá tiêu dùng kể từ đầu năm 2004 và hết năm 2007 dự báo CPI sẽ đạt tới 2 con số đã đánh động các cơ quan chức năng cũng như Chính phủ. Các Bộ chuyên ngành, các Tổng công ty đã có nhiều động thái tích cực để xốc lại hệ thống phân phối nhằm bình ổn giá. Gần đây, Chính phủ còn có những biện pháp mạnh, kể cả đưa ra chế tài kỷ luật Lãnh đạo các Tổng Công ty phụ trách các mặt hàng thiết yếu, nhưng đây mới chỉ là các biện pháp tình thế vì chính các Tổng Công ty này cũng chưa thể kiểm soát được hệ thống phân phối của mình.

    Trên nguyên tắc, trong nền kinh tế hàng hóa, Nhà nước không thể quản lý hệ thống phân phối bằng các mệnh lệnh hành chính. Trước mắt, các cơ quan quản lý Nhà nước cần tạo ra một môi trường pháp lý công bằng, tạo điều kiện cho các nhà phân phối thuộc mọi thành phần kinh tế (trong đó có tư nhân và đầu tư nước ngoài) hoạt động kinh doanh có hiệu quả, tránh tình trạng xuất hiện những nhà phân phối độc quyền cả trong nước và nước ngoài thao túng, lũng đoạn thị trường. Ngoài ra, Nhà nước cũng cần có một số ưu đãi về cho thuê đất, thuế... để hỗ trợ cho các nhà phân phối trong nước, nắm cổ phần chi phối trong hệ thống phân phối của các mặt hàng thiết yếu với đời sống xã hội như xi măng, sắt thép, xăng dầu, dược phẩm,... Các doanh nghiệp vừa nhỏ vốn chiếm đa số trong số các doanh nghiệp nước ta cần hoạch định chính sách phân phối tự chủ, không nên chỉ phụ thuộc vào một nhà phân phối nước ngoài để phân tán rủi ro.

    Hướng phát triển dịch vụ phân phối trong thời gian tới

    Thứ nhất, các rào cản về việc gia nhập và rút khỏi hệ thống phân phối sẽ dần được loại bỏ theo lộ trình thực hiện các cam kết quốc tế (WTO, BTA, Hiệp định bảo hộ và xúc tiến đầu tư Việt-Nhật, ASEAN +) và các cải cách của chính phủ nhằm tạo môi trường đầu tư và kinh doanh thông thoáng cho các nhà đầu tư nước ngoài.

    Thứ hai, sự thâm nhập ngày càng nhiều các Tập đoàn phân phối đa quốc gia trên thị trường Việt Nam, ngoài Big C, Metro Cash & Carry, Cora; nhiều khả năng sẽ có thêm Wal-mart của Mỹ, Carrefour của Pháp, các tập đoàn phân phối của Nhật, Trung Quốc... tạo nên một bức tranh đa dạng trong hệ thống phân phối trong nước. Hệ thống phân phối không còn là mảnh đất đặc quyền của các doanh nghiệp trong nước, buộc các doanh nghiệp trong nước phải động não chủ động tham gia nếu không muốn bị loại “ra rìa”.

    Thứ ba, quá trình tích tụ và tập trung sẽ diễn ra mạnh mẽ giữa các nhà phân phối trong nước tạo thành các chuỗi liên kết với các nhà sản xuất, các ngân hàng để tăng cường sức cạnh tranh (đại lý phân phối độc quyền cho thương hiệu Việt Nam, đặt các điểm giao dịch, máy ATM tại các siêu thị, chợ...). Một số nhà phân phối có tiềm lực sẽ mở rộng hoạt động phân phối ra nước ngoài thông qua liên doanh, liên kết với các tập đoàn phân phối nước ngoài hoặc thông qua các trung tâm giới thiệu sản phẩm, trung tâm thương mại của Việt Nam ở nước ngoài. Lực lượng người Việt Nam kinh doanh ở Nga và các nước Đông Âu cũng sẽ trở thành những mắt xích quan trọng trong hệ thống dây phân phối hàng “made in Viet Nam” nhưng mang thương hiệu quốc tế thay vì hàng Trung Quốc như hiện nay. Nhiều doanh nghiệp, các hộ nông dân, ngư dân, các làng nghề truyền thống do không đủ khả năng xây dựng hệ thống phân phối riêng sẽ tìm cách vươn ra thị trường thế giới bằng hình thức giao dịch điện tử.  

    Thứ tư, phương thức phân phối truyền thống, mua đứt bán đoạn vẫn tồn tại song song với các hình thức phân phối hiện đại nhưng sẽ dần thu hẹp và suy yếu, các nhà phân phối trong nước sẽ trưởng thành và học hỏi được nhiều kinh nghiệm tổ chức quản lý và hiện đại hóa hệ thống của các nhà phân phối nước ngoài để tự củng cố hệ thống của mình. Người tiêu dùng sẽ được hưởng lợi nhiều nhất từ những cải cách này. Trước mắt, các Tập đoàn phân phối nước ngoài sẽ tập trung vào mở các siêu thị bán buôn và bán lẻ, nhưng dần dần họ sẽ mở rộng sang các hình thức bán lẻ không có cửa hàng, chuyên kinh doanh bán hàng qua catalogue, điện thoại, internet, máy bán hàng và giao hàng tận nhà... Các hình thức này sẽ được du nhập, từng bước hình thành và phát triển ở nước ta. Các công ty sản xuất trong nước, đặc biệt là các công ty sản xuất và xuất khẩu nông thủy sản sẽ phân phối qua thị trường nước ngoài dưới các hình thức mới như  hợp đồng kỳ hạn, hợp đồng tương lai, hợp đồng chọn...

Hoàng Anh  Phú

Nguồn: Tạp chí Thông tin và Dự báo (23/04/2008)

 

 

 

(8484 Lượt xem)

CÁC TIN BÀI KHÁC:
Ngôn ngữ Ngôn ngữ
English (United States) Tiếng Việt (Việt Nam)
Hoạt động nghiên cứu khoa học Hoạt động nghiên cứu khoa học
Tin hoạt động nghiên cứu khoa học tháng 9 năm 2019 (16/10/2019)

Hội thảo khoa học "Tác động của Cách mạng công nghiệp lần thứ 4 và Kinh tế số đến nguồn nhân lực, cách thức vận hành và chuyển dịch cơ cấu kinh tế của Thành phố" (10/9/2019)

Tin hoạt động khoa học tháng 8 năm 2019 (4/9/2019)


Số lượt truy cập Số lượt truy cập
20213876