CƠ CHẾ CHÍNH SÁCH CƠ CHẾ CHÍNH SÁCH
Thực trạng và giải pháp phát triển doanh nghiệp nhỏ và vừa ở nước ta hiện nay

Việt Nam là một nước đang phát triển, có mật độ dân số cao, lực lượng lao động tăng nhanh, quy mô vốn tích lũy nhỏ vì vậy phát triển doanh nghiệp nhỏ và vừa (DNNVV) ở nước ta là một lựa chọn đúng đắn trên con đường CNH-HĐH đất nước.

Thực trạng phát triển doanh nghiệp nhỏ và vừa

Tính đến cuối năm 2005, số lượng DNNVV chiếm khoảng 88% trong tổng số trên 140.000 doanh nghiệp thuộc tất cả các loại hình đang hoạt động ở Việt Nam. Khu vực kinh tế tư nhân (chủ yếu là DNNVV) dẫn đầu trong tăng trưởng với tốc độ tăng trung bình là 19%, khu vực quốc doanh Trung ương là 12,5% và khu vực quốc doanh địa phương là 9,8%.

Khu vực kinh tế tư nhân có tiềm năng phát triển lớn và giá trị sản phẩm tạo ra chiếm khoảng 42% GDP. Trong khi đó, khu vực kinh tế nhà nước mặc dù chiếm tới 75% tài sản của Nhà nước, 20% đầu tư của xã hội, 5% đầu tư của Nhà nước, 70 – 80% tín dụng ưu đãi, 90% số lượng vốn của bên Việt Nam đóng góp với nước ngoài nhưng chỉ chiếm 40% GDP.

Đóng góp của DNNVV vào tăng trưởng kinh tế của đất nước là khá ấn tượng là một trong những nhân tố tích cực giúp cho nền kinh tế của nước ta duy trì tốc độ phát triển cao trong những năm vừa qua. Việc Nhà nước sử dụng biện pháp giải quyết vấn đề việc làm thông qua việc khuyến khích phát triển DNNVV là một cách làm hợp lý. Theo tính toán của các chuyên gia, để tạo ra một việc làm, các DNNN lớn phải đầu tư 41 triệu đồng, các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài là 294 triệu đồng, trong khi đó khu vực kinh tế tư nhân chỉ là 26 triệu đồng. Ở Việt Nam, lao động làm việc trong khu vực nông nghiệp chiếm đa số trong cơ cấu lao động, sản xuất mang tính thời vụ nên thời gian nhàn rỗi chiếm hầu hết trong năm. Đây là lực lượng lao động có giá rẻ và phù hợp với những DNNVV bởi đòi hỏi trình độ tay nghệ kỹ thuật không cao.

Nhiều mặt hàng xuất khẩu quan trọng do các DNNVV sản xuất đã tạo được uy tín trên thị trường quốc tế và có đặc trưng truyền thống như: hạt tiêu, hạt điều xuất khẩu, gốm sứ, thủ công mỹ nghệ, thủy sản…. Các DNNVV có vai trò khá quan trọng với tư cách là nhà sản xuất trung gian cho các doanh nghiệp lớn xuất khẩu. Kể từ khi Nhà nước có chính sách khuyến khích đầu tư tư nhân và đặc biệt là sự ra đời của Luật doanh nghiệp, sự gia tăng nhanh về số lượng doanh nghiệp mới thành lập đã giúp nền kinh tế chuyển dịch nhanh theo hướng CNH, HĐH. Các DNNVV với đặc điểm quy mô nhỏ, cần ít vốn phát triển rộng khắp cả ở thành thị và nông thôn đã thu hút một số lượng lớn lao động trong lĩnh vực nông nghiệp sang sản xuất kinh doanh trong lĩnh vực công nghiệp và dịch vụ.

Một đặc điểm chung hiện nay là hầu hết các DNNVV thường tập trung ở những đô thị lớn, ven đô và những  nơi có hạ tầng kinh tế phát triển. Ở những vùng nông thôn hoặc những vùng sâu, vùng xa, mặc dù có chi phí thuê đất đai và lao động rẻ hơn (trừ  những làng nghề truyền thống) nhưng các doanh nghiệp không muốn đầu tư. Đây là nguyên nhân chính dẫn tới sự di chuyển lao động từ nông thôn ra thành thị gây ra những vấn đề bức xúc về mặt xã hội.

Ở những tỉnh, thành phố lớn thì tỷ lệ doanh nghiệp tham gia vào lĩnh vực công nghiệp cũng cao hơn. Trong lĩnh vực thương mại, do đặc điểm là dễ thành lập và chuyển đổi mặt hàng kinh doanh nên hầu hết ở các tỉnh, thành phố số doanh nghiệp tham gia hoạt động tương đối cao. Nhìn chung, các DNNVV ít đầu tư vào lĩnh vực nông nghiệp do quy mô vốn nhỏ và thường gặp nhiều rủi ro trong kinh doanh.

Quá trình hội nhập kinh tế quốc tế với tốc độ nhanh và rộng rãi. Việc ký kết Hiệp định Thương mại song phương Việt – Mỹ, chuẩn bị gia nhập Tổ chức Thương mại thế giới (WTO) trong thời gian tới và hàng loạt các cam kết trong khuôn khổ ASEAN, APEC, ASEM,… đã đặt các doanh nghiệp Việt Nam, đặc biệt là các DNNVV trước nhiều cơ hội và thách thức mới.

Về cơ hội, hội nhập kinh tế quốc tế sẽ tạo ra những cơ hội chung cho tất cả các doanh nghiệp có thể tiếp cận với thị trường tự do toàn cầu, tiếp cận chuyển giao công nghệ và nguồn lực tri thức, tăng cường năng lực quản lý…. Đối với DNNVV thì đây là cơ hội để họ có thể tham gia vào các thị trường ngách, mở rộng hợp tác với các đối tác phù hợp, và phát huy được những lợi thế riêng của mình với những sản phẩm có tính đặc trưng, truyền thống mà các nước khác không có. Tuy nhiên, DNNVV sẽ gặp nhiều thách thức và có nguy cơ thất bại ngay chính tại thị trường nội địa chứ chưa nói đến thị trường quốc tế. Các DNNVV có rất nhiều hạn chế đó là: Chi phí đầu vào quá cao do nhập khẩu chiếm tỷ lệ lớn trong giá trị hàng hóa sản xuất, giá trị gia tăng trong hàng hóa xuất khẩu thấp; chi phí trung gian cao do vẫn còn tồn tại sự độc quyền ở một số lĩnh vực như bưu chính viễn thông, năng lượng điện, thuế sử dụng đất, chi phí vận chuyển…. Thách thức bên ngoài lớn nhất của các DNNVV hiện nay là Việt Nam theo lộ trình gia nhập AFTA thì đa số các mặt hàng được bảo hộ bởi hàng rào thuế quan nhập khẩu sẽ bị xóa bỏ, các công ty đa quốc gia sẽ tập trung sản xuất ở những nước có chi phí thấp nhất trong khu vực, các DNNVV của Việt Nam sẽ mất đi những bạn hàng quan trọng trong việc cung cấp nguyên phụ liệu, dịch vụ cũng như khả năng hợp tác. Hơn nữa, Việt Nam lại nằm kề với Trung Quốc, một đối thủ cạnh tranh rất mạnh. Khi Việt Nam trở thành thành viên của WTO, những ưu đãi về nhập khẩu và sự bảo hộ bằng hàng rào thuế quan bị xóa bỏ sẽ thực sự gây ra những khó khăn với những doanh nghiệp không có khả năng và chiến lược thích hợp. Tuy nhiên, chính điều này cũng tạo ra rất nhiều những cơ hội mới đối với những doanh nghiệp không được hưởng những ưu đãi và hỗ trợ nhiều từ Nhà nước.

Hạn chế những giải pháp

Vấn đề quan trọng hiện nay của các DNNVV là thiếu vốn sản xuất và quy mô vốn bình quân của một doanh nghiệp là quá nhỏ. Số doanh nghiệp có quy mô vốn dưới 2 tỷ chiếm tới trên 80%, vì vậy, việc đầu tư công nghệ và trang thiết bị hiện đại (hầu hết là phải nhập từ nước ngoài) là rất khó khăn, trong khi muốn cạnh tranh các doanh nghiệp nước ngoài phải không ngừng cải tiến trang thiết bị, giảm chi phí đầu vào. Nhà nước đã có chính sách hỗ trợ vay vốn tín dụng nhưng việc tiếp cận nguồn vốn này gặp nhiều trở ngại do giá trị thế chấp nhỏ, không có khả năng bảo lãnh tín dụng. Nhiều doanh nghiệp khi thuê đất thì tiền đền bù gần bằng với giá mua đất nhưng lại không được thế chấp để vay vốn. Hiện nay, các khoản vay của các DNNVV của Việt Nam chiếm tới 80% là của các tổ chức phi tài chính và người thân, chỉ có 20% là vay tín dụng từ ngân hàng.

Các DNNVV thường thiếu và khó khăn về mặt bằng sản xuất, hầu hết loại hình doanh nghiệp này không được ưu tiên về mặt bằng sản xuất, thường phải sử dụng nhà riêng và thuê mướn của tư nhân với giá thuê đất cao, vẫn còn sự phânbiệt. Các doanh nghiệp lớn thuộc khu vực kinh tế quốc doanh thường được ưu đãi về địa điểm và diện tích nhưng về hiệu quả sử dụng thì lại kém và lãng phí.

Trình độ công nghệ thấp và chất lượng lao động còn hạn chế. Xuất phát từ đặc trưng quy mô vốn nhỏ nên các doanh nghiệp hầu như bị hạn chế trong việc đầu tư công nghệ và trang thiết bị hiện đại. Trình độ quản lý và tay nghề chuyên môn thấp, hầu hết những người có trình độ cao đều có tâm lý muốn làm việc ở những công ty lớn do được trả lương cao. Các tỉnh, thành phố lớn như Hà Nội, thành phố Hồ Chí Minh, Đà Nẵng… là trung tâm đào tạo nên tập trung số lượng lao động có trình độ cao nhiều hơn. Đa số những người có trình độ ở tỉnh kinh tế kém phát triển hơn đều có tâm lý thích ở lại làm việc ở thành thị mà không muốn về ngoại tỉnh. Ở các tỉnh có nền kinh tế kém phát triển, số lượng chủ các DNNVV qua đào tạo chiếm tỷ lệ rất thấp và hầu như là chưa qua đào tạo chuyên môn; còn công nhân chủ yếu là lao động thủ công, chỉ qua đào tạo nghề ngắn hạn hoặc là những lao động chuyển từ sản xuất nông nghiệp sang nên trình độ tay nghề vẫn còn nhiều hạn chế. Vì vậy, việc áp dụng các công nghệ kỹ thuật tiên tiến hiện đại cũng gặp nhiều khó khăn.

DNNVV thiếu thông tin và vẫn bị lép vế trong các mối quan hệ (với nhà nước, thị trường, ngân hàng, với các trung tâm khoa học và trung tâm đào tạo….). Trong thời đại hiện nay, vấn đề thông tin là một yếu tố quan trọng đối với sự thành công và thất bại của doanh nghiệp, việc tiếp cận và ứng dụng Internet vào hoạt động kinh doanh đối với các DNNVV hạn chế hơn các công ty lớn do họ không đủ khả năng chuyên môn cũng như chi phí khá cao so với quy mô của doanh nghiệp nhỏ.

Từ thực tế nêu trên, để phát triển DNNVV thì một số giải pháp sau cần được áp dụng, đó là:

Một là, giải quyết tình trạng thiếu vốn cho doanh nghiệp. Trong khi doanh nghiệp thiếu vốn thì các ngân hàng kinh doanh và ngay cả Quỹ hỗ trợ phát triển không giải ngân được do những thủ tục quy định giá chặt chẽ của Nhà nước, làm cho các doanh nghiệp đặc biệt là doanh nghiệp dân doanh gặp nhiều khó khăn khi vay vốn hoặc khi doanh nghiệp có nhu cầu được bảo lãnh vay vốn. Vì vậy cần có những quy định thông thoáng hơn để có sự bình đẳng trong chính sách vay vốn.

Hai là, các tỉnh, thành phố cần tạo điều kiện thuận lợi cho các DNNVV có mặt bằng sản xuất phù hợp, quy hoạch dành quỹ đất và thực hiện các chính sách khuyến khích xây dựng các cụm công nghiệp để có mặt bằng sản xuất tập trung tạo sự thuận lợi cho các doanh nghiệp và tránh tình trạng về sau phải di dời đối với những doanh nghiệp gây ô nhiễm ra khỏi thành phố, gây tốn kém và mất ổn định. Bên cạnh đó, Nhà nước cũng cần tạo ra một khung pháp lý hợp lý hơn đối với các doanh nghiệp tư nhân, đặc biệt là: DNNVV, chẳng hạn như: Cho phép dùng giá trị quyền sử dụng đất để góp vốn liên doanh với các tổ chức và cá nhân nước ngoài, giảm phí tiền sử dụng và chuyển mục đích sử dụng đất, giảm phiền hà trong thủ tục thuê đất đai…

Ba là,  không nên phân biệt thuế giữa các thành phần kinh tế, chỉ nên phân biệt giữa các vùng và lĩnh vực hoạt động. Ngoài ra, nhà nước cần tăng thêm hỗ trợ đào tạo đối với các DNNVV, cung cấp và tạo điều kiện cho họ tiếp cận được các nguồn thông tin, mở rộng hệ thống dịch vụ tư vấn… khuyến khích các doanh nghiệp đầu tư vào những lĩnh vực có đóng góp tích cực cho xã hội, các doanh nghiệp có kim ngạch xuất khẩu cao.

Bốn là, các tỉnh, thành nên có các chính sách hỗ trợ riêng đối với các DNNVV đầu tư vào những vùng khó khăn và nông thôn, đặc biệt là những doanh nghiệp đầu tư phát triển cơ sở hạ tầng, hình thành những cụm, khu công nghiệp nhỏ để giải quyết việc làm cho lao động nông thôn, giảm tình trạng lao động từ nông thôn ra thành thị, từng bước rút ngắn sự chênh lệch về mức sống giữa thành thị và nông thôn.

Năm là, lãnh đạo địa phương và các ngành nên tổ chức các cuộc gặp mặt với các doanh nghiệp thường xuyên hơn để kịp thời giải quyết các vướng mắc và có chính sách hợp lý về các vấn đề cụ thể như chính sách thuế, thủ tục hải quan, tín dụng ngân hàng…. Các cấp chính quyền địa phương, các hiệp hội, câu lạc bộ doanh nghiệp, tổ chức các đợt tham quan học hỏi kinh nghiệm mô hình doanh nghiệp làm ăn giỏi, điển hình cho các chủ doanh nghiệp khác, các hộ nông dân, người buôn bán nhỏ có tiềm năng.

Phạm Trọng Đức

Nguồn: Tạp chí Kinh tế và Dự báo 6/2006

(14887 Lượt xem)

CÁC TIN BÀI KHÁC:
Ngôn ngữ Ngôn ngữ
English (United States) Tiếng Việt (Việt Nam)
Hoạt động nghiên cứu khoa học Hoạt động nghiên cứu khoa học
Tin hoạt động nghiên cứu khoa học tháng 9 năm 2019 (16/10/2019)

Hội thảo khoa học "Tác động của Cách mạng công nghiệp lần thứ 4 và Kinh tế số đến nguồn nhân lực, cách thức vận hành và chuyển dịch cơ cấu kinh tế của Thành phố" (10/9/2019)

Tin hoạt động khoa học tháng 8 năm 2019 (4/9/2019)


Số lượt truy cập Số lượt truy cập
20213902