HÀNG HÓA - GIÁ CẢ - THƯƠNG MẠI - XUẤT NHẬP KHẨU HÀNG HÓA - GIÁ CẢ - THƯƠNG MẠI - XUẤT NHẬP KHẨU
Thương mại 6 tháng đầu năm và giải pháp phát triển trong 6 tháng cuối năm 2007

I. Tổng quan hoạt động thương mại 6 tháng đầu năm Trong 6 tháng đầu năm 2007, các hoạt động kinh tế, thương mại tiếp tục phát triển trong điều kiện Việt Nam đã trở thành thành viên chính thức của WTO. Thương mại chịu tác động của nhiều yếu tố thuận và không thuận trong nước và quốc tế. Kinh tế tăng trưởng ở mức 7,9%, cao hơn tốc độ tăng cùng kỳ trong nhiều năm trước đó. Đây là điều kiện rất quan trọng để tăng nhu cầu tiêu dùng, quỹ hàng hóa và quy mô thị trường. Một số thay đổi trong chính sách vĩ mô theo hướng giảm can thiệp trực tiếp của Nhà nước đã có tác động tích cực đến toàn nền kinh tế. Nắng nóng, hạn hán ở nhiều khu vực đã ảnh hưởng đến phát triển kinh tế, thu nhập của dân cư. Sự bùng phát trái quy luật của dịch cúm gia cầm và sự phát triển của bệnh dịch lở mồm, long móng ở gia súc đã ảnh hưởng tiêu cực đến thị trường thực phẩm. Tình hình chính trị bất ổn ở nhiều khu vực trên thế giới; sự căng thẳng trong quan hệ giữa Mỹ và Iran đã làm cho giá dầu thô, giá vàng thế giới biến động rất mạnh. Kinh tế thế giới 6 tháng đầu năm vẫn phát triển khả quan, nhu cầu tiêu thụ nguyên vật liệu tiếp tục tăng, khiến giá nhiều loại hàng hóa, trong đó có hàng nông sản, vẫn ở mức cao. Đây là yếu tố làm tăng quy mô xuất khẩu (XK) hàng hóa của Việt Nam. Độ mở của nền kinh tế nước ta đã ở mức khá nên sự tác động của thị trường thế giới đến thị trường trong nước 6 tháng đầu năm là khá rõ nét và theo hiệu ứng thuận. Sau đây là đánh giá khái quát tình hình thương mại 6 tháng đầu năm 2007.

1. Thương mại trong nước

Sự tập trung đầu tư và chỉ đạo của Chính phủ, Bộ Thương mại, các ngành, các cấp đã tạo ra sự chuyển biến tích cực đối với thương mại trong nước. Đặc biệt, việc Chính phủ, Bộ Thương mại thông qua và sau đó là chỉ đạo thực hiện các đề án phát triển thương mại trong nước giai đoạn 2001-2010 đã làm cho thương mại trong nước 6 tháng đầu năm 2007 phát triển cả về quy mô và chất lượng.

Tổng mức bán lẻ hàng hóa và doanh thu dịch vụ tiêu dùng (TMBLHH&DTDVTD) ước tăng khoảng 20,5% so với cùng kỳ năm 2006. Nếu loại trừ yếu tố tăng giá bình quân so với cùng kỳ (4,5%) thì vẫn còn tăng khoảng 16%, cao gấp hơn 2 lần so với tốc độ tăng trưởng kinh tế. Trong nhiều năm trước đây, chúng ta quá tập trung cho XK nên đã làm hạn chế sự phát triển thương mại trong nước và ảnh hưởng đến tính bền vững của tăng trưởng kinh tế. Bắt đầu từ năm 2006, nhờ được quan tâm và có các quyết sách lớn ở tầm vĩ mô, hoạt động thương mại trong nước sôi động hơn và phát triển mạnh mẽ. Thương mại trong nước 6 tháng đầu năm 2007 tăng trưởng cao, đặc biệt 3 tháng đầu năm tăng tới 28,9% so với cùng kỳ năm 2006, đóng góp rất quan trọng vào tăng trưởng kinh tế cao và bảo đảm tính bền vững.

TMBLHH&DTDVTD trong 6 tháng đầu năm 2007 ước đạt 325.800 tỷ đồng. Hàng hóa tiêu dùng rất phong phú, đa dạng. Trước áp lực của mở cửa, hội nhập, các nhà sản xuất, kinh doanh đã chú ý nhiều hơn đến chất lượng hàng hóa, dịch vụ chăm sóc khách hàng và tổ chức hệ thống phân phối hàng hóa. Cơ cấu các thành phần kinh tế tham gia thị trường bán lẻ ít nhiều có thay đổi so với năm 2006. Thành phần kinh tế cá thể giữ vị trí số 1 trên thị trường bán lẻ với TMBLHH&DTDVTD ước đạt 195.480 tỉ đồng, chiếm khoảng 60% tổng mức bán lẻ; tiếp theo lần lượt là kinh tế tư nhân; kinh tế nhà nước; kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài (ĐTNN); kinh tế tập thể chỉ chiếm khoảng 1% trong TMBLHH&DTDVTD. Cơ cấu trên phản ánh sự manh mún và nhỏ bé trong hệ thống phân phối hàng hóa bán lẻ trong nước. Điều này cũng cho thấy nguy cơ giảm khả năng cạnh tranh khi chúng ta thực hiện đầy đủ các cam kết mở cửa thị trường vào những năm tiếp theo.

Chỉ số giá tiêu dùng 6 tháng đầu năm 2007 dự kiến đạt 4,5%. Trong dịp Tết Nguyên Đán năm nay, giá nhiều mặt hàng tiêu dùng tăng ở mức khá cao, nhất là lương thực, thực phẩm. Để giảm bù lỗ chéo giữa các hộ tiêu dùng lớn, Chính phủ đã cho phép một số mặt hàng như điện, than được điều chỉnh giá(1). Do đây là những vật tư đầu vào của nhiều ngành sản xuất nên điều đó đã tác động làm tăng giá nhiều mặt hàng như xi măng, thép, phân bón... Mặt khác, nhu cầu tiêu dùng tăng vào dịp Tết Nguyên Đán, dịp nghỉ lễ... cũng tác động làm cho giá lương thực, thực phẩm, dịch vụ tăng mạnh. Điểm đáng chú ý là nhu cầu tăng nhưng do nguồn cung hàng hóa, dịch vụ dồi dào, phong phú và sự điều tiết vĩ mô khá linh hoạt nên không tạo ra những cơn sốt trên thị trường. Trong 6 tháng đầu năm, các biện pháp điều tiết vĩ mô được Chính phủ, các bộ, ngành trung ương và địa phương triển khai quyết liệt, đặc biệt là các biện pháp phòng ngừa, ngăn chặn dịch bệnh, tăng cường kiểm tra, kiểm soát thị trường, tấn công mạnh mẽ các tội phạm kinh tế... nên giá cả hàng hóa trên thị trường không có những biến động lớn.

Trong 6 tháng đầu năm, mặt hàng lương thực, thực phẩm không có biến động về lượng nhưng giá cả tăng (do chi phí sản xuất đầu vào, cước phí vận chuyển tăng, dịch bệnh ở lợn, trâu bò, dịch cúm gia cầm bùng phát ở nhiều tỉnh trong cả nước). Tuy nhiên, thu nhập của nông dân thì vẫn rất thấp. Do đó, nhiều vùng nông dân trả ruộng, không đầu tư vào chăn nuôi... Nguy cơ thiếu lương thực, thực phẩm sẽ ảnh hưởng lớn đến phát triển kinh tế.

Mặt hàng xi măng tiêu thụ tăng do rơi vào thời kỳ cao điểm của mùa xây dựng. Lượng xi măng và clinke tồn kho cộng với tiến độ sản xuất trong nước của các nhà máy bảo đảm nên giá cả khá ổn định. Cung - cầu xi măng trên thị trường được đảm bảo.

Động thái đáng chú ý nhất là tháng 5/2007, Nhà nước đã cho phép các doanh nghiệp xăng dầu tự quyết định giá bán xăng. Tuy vậy, thị trường này vẫn chưa có những biến động lớn do mục tiêu đa dạng hóa nguồn cung và tạo sự cạnh tranh đúng pháp luật trên thị trường xăng dầu trong nước vẫn còn nhiều vấn đề cần phải giải quyết.

Sức tiêu thụ mặt hàng sắt thép tăng mạnh song giá cả ít biến động do cung lớn hơn cầu. Để ngành thép phát triển, cần giảm bảo hộ đối với công nghiệp cán thép, tăng đầu tư vào công nghiệp sản xuất phôi thép. Cách làm của công ty thép Việt Ý vừa qua cũng là một gợi mở về tư duy sản xuất thép cán ở Việt Nam.

Do bước vào vụ Đông Xuân Nhu nên nhu cầu mặt hàng phân bón và giá bán tăng nhẹ. Do giá dầu thô dao động và nhu cầu nhập khẩu (NK) từ Ấn Độ, Iran, Braxin tăng nên giá phân urê trên thị trường thế giới cũng biến động cùng chiều, làm cho giá urê trong nước tăng nhẹ. Với lượng tồn kho hiện có và khả năng sản xuất trong nước bảo đảm nên cung - cầu phân urê cân đối và không có biến động lớn.

Nhìn chung, thị trường các mặt hàng tiêu dùng thiết yếu trong nước 6 tháng đầu năm 2007 khá ổn định, không có biến động lớn. Giá cả vẫn được kiểm soát, cung - cầu bảo đảm cân đối. Quản lý, điều tiết vĩ mô của Nhà nước có nhiều đổi mới và phản ứng nhanh nhạy hơn trước những biến động của thực tiễn.

Bên cạnh những kết quả đã phân tích, thương mại trong nước cũng bộc lộ một số hạn chế:

Trước hết, tình trạng buôn lậu, gian lận thương mại, hàng giả, kém chất lượng có chiều hướng gia tăng và phức tạp. Các cơ quan chức năng đã phát hiện và thu giữ nhiều vụ làm hàng giả với quy mô lớn; quyết tâm tấn công loại tội phạm này nhưng hiệu quả còn hạn chế.

Hai là, công tác bảo đảm vệ sinh an toàn thực phẩm bị buông lỏng, nhiều nhà sản xuất đã xem nhẹ sức khỏe người tiêu dùng(2). Quản lý chất lượng sản phẩm lưu thông vẫn là bài toán nan giải chưa có lời giải đáp thỏa đáng.

Ba là, sự phát triển của thương mại trong nước vẫn thiếu tính ổn định, bền vững. Thị trường còn ẩn chứa nhiều yếu tố tự phát. Chưa thực sự có thay đổi về chất trong hoạt động thương mại từ khi Việt Nam là thành viên của WTO.

Bốn là, thiếu đồng bộ trong quản lý và điều tiết vĩ mô thị trường và thương mại. Tình trạng đổ lỗi trách nhiệm và thiếu hợp tác trong xử lý các sự cố vẫn chưa được khắc phục. Quản lý thị trường vẫn còn nhiều yếu kém và chưa bắt nhịp được với thay đổi nhanh của thực tiễn.

2. Xuất nhập khẩu hàng hóa

2.1. Về xuất khẩu

XK trong 6 tháng đầu năm ước đạt 22,6 tỷ USD, tăng gần 20% so với cùng kỳ năm 2006 và đạt 48,3% so với kế hoạch. XK của doanh nghiệp có vốn ĐTNN (không kể dầu thô) ước đạt 9 tỷ USD, tăng 34%. Trong các năm trước, kim ngạch XK dầu thô năm sau cao hơn cùng kỳ năm trước, đóng góp đáng kể cho tăng trưởng XK. Tuy nhiên, điểm khác nổi bật trong 6 tháng qua là kim ngạch XK dầu thô giảm 18% do giá dầu thô giảm 11% và lượng dầu thô XK giảm 7,8%. Nếu không tính dầu thô vào tổng kim ngạch XK của cả nước, tăng trưởng XK 6 tháng đầu năm tăng 31% so với cùng kỳ năm 2006.

XK các mặt hàng công nghiệp tăng trưởng khá so với cùng kỳ năm 2006: dệt may ước đạt 3,5 tỷ USD, tăng 28,4%; sản phẩm gỗ ước đạt 1,2 tỷ USD, tăng 30,7%; hàng điện tử và linh kiện ước đạt 1 tỷ USD, tăng 32,2%; dây điện và cáp điện ước đạt 400 triệu USD, tăng 28,6%; sản phẩm nhựa ước đạt 300 triệu USD, tăng 41,2%; hàng thủ công mỹ nghệ ước đạt 400 triệu USD, tăng 30,9%. Nhóm các mặt hàng nông, thủy sản cũng góp phần đáng kể vào tăng trưởng XK trong 6 tháng đầu năm như thủy sản ước đạt 1,68 tỷ USD, tăng 17,7%; cà phê ước đạt 760 nghìn tấn, tăng 49,6%; hàng rau quả ước đạt 160 triệu USD, tăng 23% so với cùng kỳ năm 2006.

Thị trường XK hàng hóa lớn nhất của Việt Nam hiện vẫn là EU, Mỹ, Nhật Bản. Trong đó, tỷ trọng XK vào thị trường EU chiếm khoảng 20% tổng kim ngạch XK của cả nước và tăng 27% so với cùng kỳ năm 2006; XK vào thị trường Mỹ chiếm 20% và tăng 28%.

Những kết quả đạt được trong XK hàng hóa 6 tháng đầu năm 2007 có thể được khái quát như sau:

- XK tiếp tục là động lực phát triển kinh tế với tốc độ tăng trưởng cao hơn tốc độ tăng trưởng GDP.

- Hoạt động XK có sự tham gia ngày càng sâu rộng của khu vực kinh tế ngoài quốc doanh và khu vực có vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài.

- Cơ cấu thị trường XK có nhiều chuyển biến tích cực, giảm dần sự phụ thuộc vào khu vực thị trường châu Á, tăng mạnh XK vào thị trường châu Âu, châu Mỹ. Ngoài ra còn thâm nhập được vào nhiều thị trường mới có nhiều tiềm năng như thị trường châu Phi.

- Tăng trưởng XK của khu vực có vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài luôn đạt cao hơn tốc độ tăng trưởng XK chung của cả nước.

- Các doanh nghiệp đã chủ động hơn trong việc tìm kiếm thị trường, chuyển hướng kịp thời sang các thị trường khác khi gặp khó khăn, trở ngại như các vụ kiện chống bán phá giá, hay việc tăng cường các biện pháp kiểm soát chất lượng sản phẩm của các nước đối tác...

Những khó khăn, tồn tại trong XK hàng hóa.

- Tốc độ tăng trưởng XK tuy đạt khá, ổn định, song còn thấp so với tiềm năng.

- Khả năng cạnh tranh và tiếp thị các sản phẩm hàng hóa, dịch vụ của các doanh nghiệp nhìn chung còn yếu cả về chất lượng và giá, thiếu tính hấp dẫn, kém đa dạng so với sản phẩm một số nước trong khu vực và trên thế giới.

- Nhiều hàng hóa XK của Việt Nam khi đạt tốc độ tăng trưởng cao vào các thị trường lớn như EU, Mỹ, Nhật Bản... lại trở thành đối tượng bị kiện và sau đó bị áp đặt các biện pháp phòng vệ thương mại của nước đối tác như thuế chống bán phá giá, vệ sinh an toàn thực phẩm..., gây không ít khó khăn cho các doanh nghiệp trong việc ổn định và tăng trưởng XK.

- Vai trò của các cơ quan quản lý nhà nước chưa thực sự là động lực thúc đẩy hoạt động XK, đôi khi còn thể hiện sự lúng túng, thiếu định hướng, bất cập trong công tác điều hành.

- Công tác thông tin thị trường chưa kịp thời, cập nhật, đặc biệt là thông tin từ các cơ quan quản lý nhà nước tới doanh nghiệp về khả năng áp dụng các biện pháp phòng vệ thương mại của các nước đối tác, hay thông tin về lộ trình cam kết trong các đàm phán song phương và đa phương của Việt Nam.

- Phần lớn các doanh nghiệp XK đều có quy mô nhỏ, khó khăn về vốn và công nghệ; yếu kém về năng lực quản lý kinh doanh. Nhiều doanh nghiệp vẫn sử dụng công nghệ ở mức trung bình, thậm chí có doanh nghiệp còn sử dụng công nghệ lạc hậu từ những năm 1960.

- Doanh nghiệp trong nước chưa phát huy tương xứng với tiềm năng. Một số doanh nghiệp nhà nước hoạt động XK chưa hiệu quả.

- Các nước phát triển như EU, Hoa Kỳ, Nhật Bản có xu hướng áp dụng ngày càng nhiều hàng rào kỹ thuật như kiểm tra dư lượng kháng sinh, nâng cao tiêu chuẩn chất lượng hàng hóa... để hạn chế hàng hóa NK.

2.2. Về nhập khẩu

Trong 6 tháng đầu năm 2007, NK có tốc độ tăng cao hơn XK do làn sóng đầu tư FDI vào Việt Nam tăng mạnh và đến kỳ thực hiện các cam kết giảm thuế NK. Kim ngạch NK ước đạt 25,6 tỷ USD, tăng 22,9% so với cùng kỳ năm 2006; trong đó NK của các doanh nghiệp có vốn ĐTNN ước đạt 9,5 tỷ USD, tăng 24,8%. NK tăng chủ yếu tập trung ở các mặt hàng nguyên, nhiên, phụ liệu và máy móc thiết bị. Một số mặt hàng NK tăng mạnh so với cùng kỳ như linh kiện ô tô ước đạt 250 triệu USD, tăng 31,6%; thép thành phẩm ước đạt 2,35 triệu tấn tăng 25%; máy móc, thiết bị, dụng cụ và phụ tùng ước đạt 4,3 tỷ USD, tăng 43,3%; hóa chất ước đạt 600 triệu USD, tăng 32,5%; linh kiện điện tử và máy tính ước đạt 1,2 tỷ USD, tăng 31,6%.

Nhập siêu 6 tháng đầu năm ước đạt 3 tỷ USD, bằng khoảng 13,6% tổng kim ngạch XK.

Hoạt động NK về cơ bản đã đáp ứng được nhu cầu phát triển, góp phần nâng cao năng lực sản xuất trong nước, góp phần không nhỏ vào việc thúc đẩy tăng XK của cả nước.

Cơ cấu hàng NK chủ yếu là máy móc, thiết bị và nguyên, nhiên liệu cung ứng cho đầu tư, mở rộng sản xuất, nguyên, nhiên vật liệu phục vụ sản xuất và kinh doanh. Do sản xuất hàng hóa trong nước phát triển nên NK hàng hóa phục vụ tiêu dùng trực tiếp chiếm tỷ trọng nhỏ.

Cơ cấu thị trường NK của Việt Nam cũng có chuyển biến tích cực; tăng NK hàng máy móc, thiết bị, phụ tùng từ những thị trường có trình độ công nghệ cao như EU, Nhật Bản, Hoa Kỳ, Canađa.

Một số khó khăn, tồn tại trong NK hàng hóa:

Tỷ trọng nguyên, nhiên, vật liệu NK vẫn lớn, nhất là nguyên liệu gia công sản xuất hàng XK của các ngành như dệt may, giầy dép. Điều đó thể hiện sự phụ thuộc đáng kể vào thị trường cung cấp ở nước ngoài, gây nhiều bất lợi cho doanh nghiệp trong nước.

Thị trường NK chủ yếu vẫn là khu vực châu Á; thị trường Âu - Mỹ còn chiếm tỷ trọng chưa cao nên chưa tiếp cận được nhiều công nghệ nguồn, công nghệ cao; hơn nữa, do nhiều nguyên nhân khác nhau, nhiều doanh nghiệp phải NK hàng đã qua sử dụng, công nghệ tương đối lạc hậu, làm giảm tuổi thọ nhà máy, giảm chất lượng hàng XK và ảnh hưởng tới môi trường.

II. Một số giải pháp phát triển thương mại 6 tháng cuối năm 2007

TMBLHH&DTDVTD ước đạt cả năm là 670.080 tỷ đồng, tăng 15,9% so với năm 2006; chỉ số giá tiêu dùng cuối năm 2007 dự báo tăng khoảng 7-7,5%; kim ngạch XK ước đạt 46,8 tỷ USD, tăng 17,5%; kim ngạch NK ước đạt 54 tỷ USD, tăng 20,1%. Như vậy, nhiệm vụ 6 tháng cuối năm còn rất nặng nề, đòi hỏi phải phấn đấu mạnh mẽ và có giải pháp quyết liệt mới có thể thực hiện tốt các chỉ tiêu. Trong bối cảnh đó, cần thực hiện tốt một số giải pháp sau:

Thứ nhất, sử dụng các biện pháp kích cầu trong nước. Đặc biệt sử dụng các biện pháp mạnh để chống đầu cơ vào bất động sản như đánh thuế bất động sản, quy định kê khai tài sản..., đồng thời bảo đảm tăng nguồn cung để ổn định cân đối cung - cầu. Tăng cường thu hút các nguồn lực đầu tư vào sản xuất hàng hóa, đặc biệt tăng cường xúc tiến thu hút FDI.

Thứ hai, khuyến khích các liên kết, hợp tác trong nước để hình thành hệ thống phân phối hàng hóa lớn, có khả năng chi phối và nâng cao sức cạnh tranh, tiến tới hình thành tập đoàn bán lẻ quốc gia. Hình thức liên kết giữa các nhà thương mại bán lẻ hàng đầu trong nước là bước đi cần thiết để hình thành tập đoàn trong tương lai gần. Sự liên kết trong mạng lưới tạo nguồn và phân phối hàng hóa, xây dựng những tổng kho hàng hóa tại các khu vực trong cả nước, việc xây dựng các đại siêu thị... cần được triển khai ngay để tạo thế lực mạnh trên thị trường.

Thứ ba, tiếp tục tạo lập môi trường kinh doanh thuận lợi. Đẩy mạnh hơn nữa công tác cải cách hành chính, xóa bỏ các thủ tục phiền hà cho doanh nghiệp, doanh nhân; triển khai mạnh mẽ chế độ một cửa và tăng cường hành chính điện tử. Thực thi đồng bộ các chính sách đầu tư và hỗ trợ không vi phạm các quy dịnh của WTO.

Thứ tư, thông tin kinh tế, xúc tiến thương mại phải được tăng cường cả ở vĩ mô và vi mô. Thông tin về lộ trình hội nhập và các cam kết trong WTO, cam kết song phương cần phải được tuyên truyền sâu rộng, thường xuyên đến từng người dân. Tăng cường đầu tư cả về cơ sở vật chất kỹ thuật và con người cho các trung tâm thông tin của các bộ, ngành. Hỗ trợ các doanh nghiệp vừa và nhỏ trong nghiên cứu thị trường, quảng bá hình ảnh và thương hiệu, xúc tiến bán hàng.

Thứ năm, phối hợp đồng bộ trong công tác quản lý thị trường. Kiểm tra, kiểm soát chặt chẽ chất lượng hàng hóa lưu thông. Xử lý nghiêm minh và dứt điểm những vụ vi phạm tiêu chuẩn an toàn vệ sinh thực phẩm. Tăng cường công tác kiểm tra, thẩm định giá đối với các mặt hàng thiết yếu như lương thực, thuốc tân dược, xăng dầu, xi măng, than, sắt thép... để bảo đảm không có sự tăng đột biến về giá, kiềm chế chỉ số giá tiêu dùng ở mức hợp lý.

Thương mại 6 tháng đầu năm tiếp tục có sự tăng trưởng ở mức cao. Đó là tín hiệu tốt của năm đầu tiên gia nhập WTO. Bằng sự nỗ lực và cố gắng của tất cả các doanh nghiệp, doanh nhân và các cấp, các ngành, thương mại năm 2007 sẽ thực hiện vượt các chỉ tiêu kế hoạch đã đề ra, đóng góp lớn vào sự phát triển kinh tế - xã hội của đất nước.

Chú thích:

(1) Ngay trong tháng 1/2007, giá điện đã tăng bình quân 7,6%, giá than tăng 20% đối với các hộ tiêu dùng lớn. Trong tháng 5, Nhà nước thực hiện cơ chế để các doanh nghiệp xăng dầu tự chủ giá bán, giá xăng tăng thêm 800 đồng/lít.

(2) Vụ chất 3 - MCPD quá tiêu chuẩn cho phép ở nước tương bị phát giác đã cho thấy sự yếu kém trong quản lý của các cơ quan chức năng và sự vô trách nhiệm, bất chấp quy định an toàn thực phẩm của nhà sản xuất.

Biên tập và tổng hợp từ nguồn "TC Thông tin và Dự báo Kinh tế - Xã hội – 6/2007"

(2586 Lượt xem)

CÁC TIN BÀI KHÁC:
Ngôn ngữ Ngôn ngữ
English (United States) Tiếng Việt (Việt Nam)
Hoạt động nghiên cứu khoa học Hoạt động nghiên cứu khoa học
Tin hoạt động khoa học tháng 08 năm 2018 (11/9/2018)

Tin hoạt động khoa học tháng 07 năm 2018 (13/8/2018)

Tin hoạt động khoa học tháng 06 năm 2018 (9/7/2018)


Số lượt truy cập Số lượt truy cập
18447318