KINH TẾ VĨ MÔ - KINH TẾ NGÀNH KINH TẾ VĨ MÔ - KINH TẾ NGÀNH
Liên kết kinh tế một nhu cầu cấp bách đối với phát triển kinh tế - xã hội hiện nay

Liên kết kinh tế là một phương thức đã xuất hiện từ lâu trong hoạt động kinh tế, là sự hợp tác của hai hay nhiều bên và trong quá trình hoạt động, cùng mang lại lợi ích cho các bên tham gia. Trong bối cảnh toàn cầu hoá về kinh tế hiện nay, liên kết kinh tế đang ngày càng trở thành nhu cầu bức xúc, xuất hiện ở mọi mặt của đời sống kinh tế - xã hội. Bài viết này đề cập đến các vấn đề liên kết kinh tế trong hoạt động sản xuất - kinh doanh (SX-KD) ở lĩnh vực công nghiệp.

I. Lợi ích của liên kết kinh tế:

Liên kết kinh tế, như trên đã nói, là sự hợp tác cùng phát triển của hai hay nhiều bên, không kể quy mô hay loại hình sở hữu. Mục tiêu của liên kết kinh tế là các bên tìm cách bù đắp sự thiếu hụt của mình, từ sự phối hợp hoạt động với đối tác. Điều đó có nghĩa là, liên kết kinh tế có thể xuất hiện giữa các doanh nghiệp (DN) lớn, nhỏ với nhau (Cùng lớn, cùng nhỏ, hay lớn với nhỏ). Mà không phân biệt các DN thuộc loại hình sở hữu nào (DNNN, DN ngoài QD, hay DN có vốn đầu tư nước ngoài). Lợi ích của liên kết kinh tế rất đa dạng và có thể được khái quát như sau:

1.1. Liên kết kinh tế giúp DN khắc phục những bất lợi về quy mô.

“To không phải là tốt”- Đó là câu châm ngôn mà chúng ta vẫn thường gặp trong đời sống hàng ngày. Câu nói có vẻ hài hước này, thực ra lại rất đúng trong tổ chức SX-KD công nghiệp.

Chúng ta đều biết, trong hoạt động SX-KD, mỗi DN đều có một hoặc vài lĩnh vực hoạt động chủ đạo, mang tính đặc thù, chuyên biệt. Bên cạnh đó, là một loạt các hoạt động phụ, mà bản thân DN không thể thực hiện được, nhưng nó lại không thể thiếu đối với dây chuyền sản xuất chính.

Ví dụ về mối liên hệ này có thể kể ra rất nhiều: Một nhà máy dệt vải, ngoài nguyên liệu chính là sợi phải mua của các nhà máy kéo sợi, họ còn cần dùng đến rất nhiều loại vật liệu phụ khác như bột sắn để cung cấp cho khâu hồ sợi; ống giấy cho cuộn vải; bao tải, dây đai cho khâu đóng kiện.v.v... chưa kể một loạt các loại phụ kiện khác như con thoi, go, cua roa, tay đập... bắt buộc phải có, để duy trì hoạt động cho các máy dệt.

Hay như ở các nhà máy sản xuất và lắp ráp xe máy và ôtô, ngoài các bộ phận chính của chiếc xe máy là khung sườn và động cơ, thì còn phải cần rất nhiều loại phụ tùng, linh kiện khác như các loại phụ kiện nhựa, cao su, rồi các phụ tùng như chân chống, vành lốp, nan hoa, đệm ghế, các phụ kiện nội thất... mới tạo nên được một sản phẩm hoàn chỉnh. Thay vì tổ chức sản xuất đầy đủ tất cả các loại phụ tùng, linh kiện đó, các cơ sở này đã đặt gia công ở các cơ sở sản xuất khác, với hy vọng tiết kiệm chi phí và tìm kiếm được lợi nhuận cao hơn.

Hình thức kinh doanh này (Tiếng Anh gọi là Outsoursing) đã xuất hiện từ lâu và hiện đang rất thịnh hành ở nhiều nước trên thế giới. Để góp phần đạt mục tiêu tiết kiệm chi phí sản xuất đến năm 2010, mỗi năm 6 tỷ USD, hãng Ford của Hoa kỳ đã lên kế hoạch tăng gấp đôi trị giá linh kiện mua từ Trung Quốc, mỗi năm dự kiến đạt khoảng 2,5 - 3 tỷ USD. 

1.2. Liên kết kinh tế giúp DN phản ứng nhanh với những thay đổi của thị trường.

Như trên đã nói, liên kết kinh tế giúp DN khắc phục được những hạn chế về quy mô, thì ở một khía cạnh khác, liên kết kinh tế còn giúp cho DN phản ứng nhanh với những thay đổi của thị trường. Điều đó được thể hiện ở những nội dung sau:

- Nhu cầu của thị trường là luôn thay đổi, điều đó buộc các DN vừa phải luôn thay đổi mẫu mã của các sản phẩm hiện có, vừa phải tìm cách đa dạng hoá sản phẩm. Để có được những thay đổi phù hợp với nhu cầu của thị trường, DN cần phải có thông tin và có đủ khả năng triển khai nhanh các phương án sản xuất mới. Chính sự liên kết kinh tế sẽ giúp cho DN đạt được điều đó.

Một DN chuyên sản xuất hàng may mặc thời trang, khi có một mốt mới xuất hiện, DN muốn triển khai sản xuất theo mẫu này. Mặc dầu nguyên liệu chính vẫn là vải, song, sản phẩm mới lại có nhu cầu sử dụng nhiều loại phụ liệu mới như ru băng, hạt cườm... Muốn triển khai sản xuất, DN phải liên kết với các cơ sở khác để có được các phụ liệu này.

- Liên kết kinh tế giúp cho các DN tiêu thụ sản phẩm của mình được nhanh hơn. Điều đó được thể hiện rất rõ qua sự liên kết của hệ thống các nhà thương mại với các nhà sản xuất, thông qua hình thức đại lý bán hàng. Với hình thức liên kết này, các cửa hàng kinh doanh sẽ nhận làm đại lý bán buôn hay bán lẻ sản phẩm cho DN sản xuất. Và nhờ đó, sản phẩm của DN sẽ được đưa vào thị trường một cách nhanh chóng hơn, kịp thời hơn.

Trong xu thế toàn cầu hoá hiện nay, hình thức liên kết này hiện đang rất phát triển ở các quốc gia phát triển, đặc biệt là Hoa kỳ. Hình thức liên kết kinh tế này được thực hiện “xuyên quốc gia”, có nghĩa là xuất hiện các công ty bán buôn, bán lẻ phân phối hoặc kinh doanh thương mại chuyên bán sản phẩm do các công ty khác sản xuất (Tiếng Anh gọi là Original Equipment Manufactuer - OEM). Những hàng hoá do họ tiêu thụ có thể do chính họ thiết kế, sau đó đặt sản xuất hoặc do chính các nhà sản xuất thiết kế. Nhiều sản phẩm nổi tiếng thế giới đã được sản xuất và tiêu thụ theo hình thức này, như giày thể thao Wilson, các sản phẩm may mặc của Piecardin, hay các sản phẩm đồ thể thao cua hãng Nike, kể cả máy chơi game của hãng Microsoft...            

- Liên kết kinh tế còn giúp cho các DN có thể tiếp cận nhanh chóng với các công nghệ và kỹ thuật mới, nhờ sự phối hợp với các nhà nghiên cứu ở các trường đại học hay cơ sở nghiên cứu trong và ngoài nước.

- Ngược lại, sự thay đổi của thị trường cũng thúc đẩy liên kết kinh tế. Trong thực tế, khi những thay đổi của thị trường vượt ra ngoài khả năng đáp ứng của DN, buộc các DN phải tìm cách liên kết với các đối tác khác để tìm kiếm sự hỗ trợ về vốn và công nghệ, kể cả việc tiến hành đặt gia công sản xuất ở bên ngoài những phụ kiện phục vụ cho sản phẩm chính của mình, như đã nói ở trên.

1.3. Liên kết kinh tế giúp DN giảm thiểu rủi ro trong kinh doanh.

Ngoài hai lợi ích cơ bản của liên kết kinh tế, được nói ở trên, liên kết kinh tế còn giúp cho DN giảm thiểu rủi ro trong kinh doanh.

Phát triển sản xuất là một quá trình vận động không ngừng, tích tụ tập trung rồi lại chia tách, sáp nhập để đáp ứng nhu cầu phát triển của xã hội và phù hợp với khả năng nội tại của DN, với mục đích tìm kiếm lợi nhuận cao nhất, mà lại giảm thiểu được rủi ro. Quá trình đó diễn ra thực chất là thông qua các hoạt động liên kết kinh tế.

Đứng trước một dự án sản xuất lớn, nhiều khi vượt quá khả năng sản xuất của DN. Nếu DN bỏ, thì sẽ mất cơ hội làm ăn, nhưng nếu DN đơn độc một mình triển khai thực hiện dự án, nhiều khi, do không kham nổi, sẽ dễ dẫn đến hiệu quả thấp, thậm chí thua lỗ. Để tránh được hiện tượng này, nhiều DN đã biết phân tán rủi ro bằng cách mời gọi các DN khác cùng tham gia thực hiện dự án, mỗi DN đảm nhận một phần công việc, tuỳ theo năng lực của từng DN. Như vậy, mỗi DN tham gia dự án chỉ phải chịu một phần rủi ro (nếu có).

ở một khía cạnh khác, hai DN, trước đây là đối thủ của nhau, cạnh tranh nhau trên cùng một loại sản phẩm, trong cùng một thị trường. Nay, để giảm thiểu rủi ro do cạnh tranh, họ liên kết lại, cùng thoả hiệp để phân chia thị trường, kể cả việc sáp nhập để tạo nên độc quyền nhóm.  

II. Thực trạng liên kết kinh tế ở Việt Nam hiện nay:

Hiện tại, liên kết kinh tế ở Việt Nam đã xuất hiện ở nhiều lĩnh vực. Đã có nhiều ví dụ minh chứng cho sự thành công của liên kết kinh tế, như liên kết giữa các DN sản xuất và lắp ráp ôtô, xe máy với các cơ sở sản xuất linh kiện, phụ tùng; liên kết trong gia công sản xuất hàng may mặc (liên kết giữa các cơ sở sản xuất công nghiệp); liên kết trong thi công xây dựng các công trình lớn... (liên kết trong sản xuất công nghiệp, xây dựng); liên kết giữa các DN chế biến nông sản, thực phẩm với bà con nông dân trồng nguyên liệu... (liên kết giữa công và nông nghiệp). Hình thức liên kết cũng khá đa dạng, như gia công, thầu phụ, liên doanh, liên kết giữa các doanh nghiệp trong cùng nhóm sản phẩm hay hiệp hội ngành nghề...

Tuy nhiên, liên kết kinh tế ở Việt Nam đang tồn tại những nhược điểm sau:

2.1.  Liên kết kinh tế chưa trở thành nhu cầu bức xúc trong hoạt động của doanh nghiệp.

 Một cuộc điều tra cho thấy, trên 50% số doanh nghiệp được hỏi, cho biết không có hoặc chưa có nhu cầu tìm kiếm sự liên kết; khoảng 30% số doanh nghiệp cho biết đang có nhu cầu tìm kiếm sự liên kết kinh tế để bù đắp sự thiếu hụt trong năng lực sản xuất của mình; và chỉ có gần 20% số doanh nghiệp cho biết là họ luôn có nhu cầu tìm kiếm các mối liên kết để nâng cao hiệu quả hoạt động sản xuất kinh doanh, cả hiện tại và tương lai.

Ngay trong một doanh nghiệp, nhu cầu liên kết kinh tế, nếu có xuất hiện, cũng chỉ tồn tại trong ý tưởng của các lãnh đạo doanh nghiệp, mà chưa trở thành nhu cầu của tất cả thành viên trong doanh nghiệp. Thực tế điều hành sản xuất kinh doanh cho thấy, chính các cán bộ quản lý cấp trung gian là những người dễ dàng nhận ra các nhu cầu về liên kết nhất, mà nếu họ không nêu ra, thì chủ doanh nghiệp cũng khó lòng mà nhận thấy. Đó là chưa kể, nếu những người lao động trực tiếp không nhận thức rõ được các lợi ích của liên kết kinh tế, thì trong công việc, họ sẽ không triệt để tuân thủ các quy định của các hợp đồng kinh tế, và do vậy sẽ dẫn đến hiệu quả không cao của doanh nghiệp khi thực hiện các liên kết kinh tế.

ở một khía cạnh khác, liên kết kinh tế, nhiều khi lại được thực hiện bởi các mệnh lệnh hành chính, như sự sáp nhập, hình thành các tổng công ty, công ty... (Kể cả việc hình thành các mô hình công ty mẹ - công ty con, đang được triển khai rầm rộ hiện nay, nếu không được rút kinh nghiệm để điều chỉnh kịp thời), nên hiệu quả thực sự của liên kết kinh tế không cao, đôi khi lại có tác dụng ngược lại.

2.2. Môi trường kinh doanh chưa thuận lợi cho liên kết kinh tế.

Như trên đã nói, liên kết kinh tế bấy lâu nay, chủ yếu vẫn là quá trình vận động tự thân của doanh nghiệp. Nhà nước hầu như chưa có được các cơ chế, chính sách cụ thể, tạo điều kiện hay khuyến khích cho liên kết kinh tế phát triển.

- Về phía doanh nghiệp, khi có nhu cầu tìm kiếm sự liên kết, nhưng không biết tìm ở đâu, bởi các thông tin về đối tác đôi khi không đầy đủ hoặc không đủ tin cậy để doanh nghiệp đi đến quyết định có nên liên kết với đối tác đó hay không. Nếu các hoạt động kiểm toán và công khai thông tin được tiến hành một cách thường xuyên thì cũng là cách giúp DN có điều kiện để tìm hiểu thông tin về các đối tác của mình một cách có hiệu quả hơn.

- Năng lực liên kết của các DN Việt Nam còn nhiều hạn chế, điều đó được thể hiện ở uy tín của các DN chưa cao, chưa đủ sức thu hút các DN nhỏ khác làm vệ tinh cho mình. Những DN có đủ năng lực như Lilama, Sông Đà... chưa nhiều, làm cho các quan hệ về liên kết kinh tế khó phát triển. Hy vọng rằng, với sự ra đời của một số tập đoàn kinh tế như Điện lực, Than và khoáng sản, Dệt may..., các mối quan hệ về liên kết kinh tế sẽ có điều kiện phát triển hơn. 

- Sự nhỏ bé về quy mô thị trường, đặc biệt là thị trường xuất khẩu, làm cho các DN khó tiến hành các hoạt động liên kết. Song, vấn đề này sẽ sớm được khắc phục khi Việt Nam hiện đã chính thức gia nhập Tổ chức Thương mại thế giới WTO.

- Cơ chế chính sách của Nhà nước chưa có nhiều quy định liên quan đến việc thúc đẩy các mối liên kết kinh tế phát triển hoặc đã có thì lại khó đi vào cuộc sống do tâm lý sản xuất nhỏ, manh mún trong nhiều lĩnh vực của nền kinh tế. Điều này được thể hiện rất rõ trong việc triển khai QĐ 80/TTg của Thủ tướng Chính phủ về liên kết kinh tế trong sản xuất và tiêu thụ nông sản. 

III. Một số giải pháp thúc đẩy liên kết kinh tế ở Việt Nam:

3.1. Đối với Nhà nước:

- Việc thu thuế giá trị gia tăng có khấu trừ đầu vào, đã khắc phục được hiện tượng thuế trùng thuế đối với nguyên liệu và các bán thành phẩm, từ đó thúc đẩy quá trình liên kết kinh tế. Tuy nhiên, điều này chỉ thực hiện được đối với khu vực các doanh nghiệp, cơ sở sản xuất có sử dụng hoá đơn VAT do ngành Thuế phát hành, còn đối với các cơ sở sản xuất CN - TTCN ở nông thôn thì rất khó thực hiện, vì các cơ sở này thường đặt gia công sản phẩm, bán thành phẩm ở các hộ gia đình, mà những hộ sản xuất này thường không sử dụng hoá đơn VAT, nhưng cũng vẫn phải nộp một khoản thuế khoán cho địa phương.

Để khắc phục hiện tượng trùng thuế này, hoặc là các địa phương thực hiện miễn thuế đối với các hộ và cơ sở sản xuất nguyên liệu hoặc bán thành phẩm để cung cấp cho các cơ sở sản xuất khác, hoặc là giảm thuế đối với các cơ sở sản xuất có sử dụng nguồn nguyên liệu hay bán thành phẩm từ các cơ sở sản xuất và hộ gia đình (không có hoá đơn VAT).

- Liên kết kinh tế theo tinh thần QĐ 80/TTg, sở dĩ chưa thu được nhiều kết quả như mong muốn, vì chúng ta triển khai quá đại trà, trong khi trình độ nhận thức của người dân về quyền lợi và trách nhiệm của các chủ thể trong các hợp đồng kinh tế còn quá sơ sài và non kém. Kinh nghiệm cho thấy, chỉ có những cơ sở sản xuất lớn, như nông, lâm trường, các trang trại là thường thực hiện đúng các cam kết đối với các các cơ sở chế biến.

Trong thời gian tới, để hình thức liên kết giữa 4 nhà được triển khai có hiệu quả hơn, Nhà nước cần có các chính sách để khuyến khích sự phát triển của các nông, trang trại, như trợ giúp về các loại giống cây, con có năng suất cao, có khả năng kháng chịu sâu bệnh tốt... hoặc hỗ trợ về thuỷ lợi, tưới tiêu... phù hợp với các cam kết của WTO, nhằm tạo ra được lượng nguyên liệu hàng hóa ổn định về số lượng và chất lượng cho công nghiệp chế biến.

- Có chính sách khuyến khích các hình thức liên kết kinh tế như thầu phụ, OME, Outsoursing..., trong tất cả các lĩnh vực sản xuất kinh doanh, đặc biệt là trong chế biến nông, lâm sản, như hỗ trợ việc tìm kiếm thị trường, xúc tiến thương mại đối với các doanh nghiệp có các hình thức liên kết với các doanh nghiệp trong nước. 

3.2. Đối với các cơ sở sản xuất:

- Nâng cao nhận thức về liên kết kinh tế: Các cơ sở sản xuất, đặc biệt là các doanh nghiệp vừa và nhỏ, cần nâng cao nhận thức về hiệu quả của liên kết kinh tế, để từ đó có thể chủ động tìm kiếm các mối liên kết trong hoạt động của mình. Cần chú ý rằng, sự liên kết có thể được thể hiện ở nhiều lĩnh vực khác nhau, như liên kết về công nghệ, liên kết về thị trường, liên kết về nhân lực, liên kết trong dây chuyền tạo ra chuỗi giá trị của sản phẩm...

Việc tạo ra sự chuyển biến trong nhận thức của doanh nghiệp về liên kết kinh tế, như trên đã nói, cần được triển khai ở tất cả các bộ phận của doanh nghiệp. Cần nhớ rằng, trong doanh nghiệp, chính các cán bộ quản lý cấp trung gian là những người dễ dàng nhận ra các nhu cầu về liên kết nhất. Và chính họ là những người đề xuất để chủ doanh nghiệp lựa chọn và quyết định triển khai các quan hệ liên kết kinh tế.

- Nâng cao trình độ công nghệ: Tiếp tục nâng cao trình độ công nghệ để có thể chuyên môn hoá sâu, từ đó có điều kiện tham gia và mở rộng các mối quan hệ liên kết kinh tế.

Thực tế cho thấy, chuyên môn hoá sâu và sự ổn định về công nghệ, chất lượng sản phẩm là những điều kiện quan trọng quyết định để có được những hợp đồng thầu phụ hay gia công kiểu OME.

- Lựa chọn hình thức liên kết kinh tế phù hợp: Ngoài việc xác định được nội dung công việc cần phải liên kết và xác định được đối tác cần liên kết, một vấn đề hết sức quan trọng mà doanh nghiệp cần chú ý, đó là lựa chọn hình thức liên kết. Thực tế cho thấy, việc lựa chọn đúng hình thức liên kết, phù hợp với khả năng của các bên, là một trong những yếu tố quyết định sự thành công của quá trình liên kết.

 Ngoài ra, việc soạn thảo các hợp đồng liên kết kinh tế cần tuân thủ các quy định của pháp luật, quy định rõ quyền và nghĩa vụ của các bên, dự kiến các mâu thuẫn, tranh chấp có thể xảy ra và hướng giải quyết các mâu thuẫn này, để tránh những hậu quả đáng tiếc do sự thiếu sót của hợp đồng gây ra.

3.3. Đối với các hiệp hội ngành nghề:

Tăng cường vai trò của các hiệp hội ngành nghề trong việc mở rộng các mối quan hệ liên kết kinh tế, thông qua các hoạt động sau:

- Hiệp hội đứng ra làm vai trò tập hợp và điều phối sự phối hợp của các doanh nghiệp thành viên, khi có những hợp đồng kinh tế vượt quá khả năng của từng thành viên đơn lẻ. Làm được việc này sẽ tránh được tình trạng ép giá của các đối tác đặt hàng, mà chúng ta vẫn đáp ứng được nhu cầu của các khách hàng lớn, đặc biệt là các mặt hàng may mặc và chế biến gỗ.

- Chủ động tạo ra các mối quan hệ liên kết trong nội bộ các doanh nghiệp thành viên, bằng cách hướng các doanh nghiệp lớn ưu tiên đặt hàng các doanh nghiệp nhỏ trong cùng hiệp hội.

- Đầu mối trong các họat động xúc tiến thương mại, tìm kiếm thị trường cho cả ngành hàng và chủ động hỗ trợ các doanh nghiệp thành viên trong hoạt động này.

TS. Dương Đình Giám

Nguồn: TCCN số tháng 1/2007



(1014 Lượt xem)

CÁC TIN BÀI KHÁC:
Ngôn ngữ Ngôn ngữ
English (United States) Tiếng Việt (Việt Nam)
Hoạt động nghiên cứu khoa học Hoạt động nghiên cứu khoa học
Tin hoạt động khoa học tháng 10 năm 2019 (4/11/2019)

Tin hoạt động nghiên cứu khoa học tháng 9 năm 2019 (16/10/2019)

Hội thảo khoa học "Tác động của Cách mạng công nghiệp lần thứ 4 và Kinh tế số đến nguồn nhân lực, cách thức vận hành và chuyển dịch cơ cấu kinh tế của Thành phố" (10/9/2019)


Số lượt truy cập Số lượt truy cập
20338083