KINH TẾ VĨ MÔ - KINH TẾ NGÀNH KINH TẾ VĨ MÔ - KINH TẾ NGÀNH
Phác họa kinh tế Việt Nam nửa năm

Mặc dù có nhiều khó khăn khách quan do thị trường thế giới biến động, giá cả nhiên liệu, nguyên liệu nhập khẩu tăng cao, song nền kinh tế cả nước trong sáu tháng đầu năm 2006 vẫn tăng trưởng khá cao.

Theo Tổng cục Thống kê, tổng sản phẩm trong nước (GDP) tăng 7,4% so với cùng kỳ năm 2005, trong đó nông lâm nghiệp và thủy sản (khu vực I) tăng 3,0%, công nghiệp và xây dựng (khu vực II) tăng 9,3% và dịch vụ (khu vực III) tăng 7,7%. Cơ cấu kinh tế tiếp tục chuyển dịch theo hướng tiến bộ. Tỷ trọng khu vực I giảm từ 21,42% GDP trong sáu tháng đầu năm 2005 xuống còn 20,71% trong sáu tháng đầu năm nay. Trong khi đó, tỷ trọng khu vực II tăng từ 40,25% lên 40,53% và tỷ trọng khu vực III tăng từ 38% lên 38,76% trong thời gian tương ứng.

 Do kinh tế tăng trưởng khá nên tình hình tài chính ổn định, cân đối thu-chi ngân sách nhà nước đảm bảo. Tổng thu ngân sách nhà nước sáu tháng đầu năm đạt 48,8% dự toán cả năm và tăng 14,15% so với cùng kỳ năm 2005, trong đó thu nội địa tăng 13,9%; thu từ dầu thô tăng 25,3%. Tổng chi ngân sách nhà nước đạt 42,7% kế hoạch năm và tăng 16,2% so với cùng kỳ, trong đó chi đầu tư phát triển đạt 44,6%, tăng 16,2%, chi trả nợ nước ngoài đạt 44,6%, tăng 2,9%.

 Bội chi ngân sách bằng 37,6% mức bội chi cả năm 2006 được Quốc hội cho phép, trong đó trên 67% được bù đắp bằng vốn vay trong nước và 33% vay nước ngoài.

 Nông nghiệp: diện tích tăng, năng suất giảm           

Giá trị sản xuất nông nghiệp sáu tháng đầu năm 2006 (theo giá cố định năm 1994) đạt 65.399 tỉ đồng, tăng 3,04%. Một trong những điều đáng quan tâm trong lĩnh vực này là sản lượng lương thực có hạt đạt mức cao nhất từ trước đến nay, gần 19,5 triệu tấn.

 Sản lượng lúa đông xuân 2006 tăng so với năm trước nhờ diện tích gieo trồng tăng. Trong khi đó, năng suất lúa vụ đông xuân giảm đã làm ảnh hưởng đến sản lượng lúa. Tính chung cả nước, diện tích gieo cấy lúa đạt gần ba triệu héc ta, tăng 1,8% so với cùng kỳ năm trước. Trong đó, riêng miền Nam là khoảng 1,85 triệu héc ta, tăng 3,2%. Nguyên nhân tăng là do một số tỉnh đồng bằng sông Cửu Long chuyển diện tích trồng màu và nuôi thủy sản không hiệu quả sang trồng lúa (20.100 héc ta). Các tỉnh Đông Nam bộ, chủ yếu là Bình Thuận, Ninh Thuận tăng 22.000 héc ta và Tây Nguyên tăng 10.000 héc ta, do vụ đông xuân năm nay mưa nhiều, đủ nước nên chủ động gieo cấy hết diện tích đất lúa (năm ngoái do hạn nặng, thiếu nước nên nhiều diện tích đất trồng lúa bị bỏ hoang).

 

Năng suất lúa đông xuân 2006 cả nước đạt 58,8 tạ/héc ta, giảm 0,2 tạ/héc ta so với cùng kỳ năm trước. Sản lượng lúa đạt 17,6 triệu tấn, tăng 1,5% (266.000 tấn), cao nhất từ trước đến nay. Riêng khu vực đồng bằng sông Cửu Long đạt 8,9 triệu tấn, giảm 79.000 tấn do giảm năng suất ở những vùng bị nhiễm mặn. Sự sụt giảm năng suất và sản lượng lúa đông xuân năm nay của vùng đồng bằng sông Cửu Long tuy không lớn nhưng cũng ảnh hưởng đến thị trường và giá lúa gạo cả nước. Giá lương thực hai tháng vừa qua tăng 0,3%/tháng, và sáu tháng đầu năm tăng 5,2%.

 Trong khi đó, dù có khó khăn do dịch lở mồm long móng gia súc, ngành chăn nuôi cả nước vẫn tiếp tục phát triển và tăng trưởng khá. Theo kết quả điều tra chăn nuôi ngày 1-4-2006, cả nước có hơn 27 triệu con heo, tăng 5,3% so cùng kỳ năm trước, sản lượng thịt heo hơi xuất chuồng tăng 5-6%. Trong tháng 6, dịch lở mồm long móng ở gia súc cơ bản đã được khống chế ở nhiều địa phương.

 Tổng sản lượng thủy sản ước đạt 1,7 triệu tấn, tăng 8,1% so cùng kỳ năm trước, trong đó cá tăng 9,9%; tôm tăng 2,5%. Nhìn chung sáu tháng đầu năm 2006, do chịu ảnh hưởng của giá xăng dầu, cơn bão số 1 (bão Chanchu) nên sản lượng tăng chậm so với cùng kỳ. Ước tính sản lượng thủy sản khai thác đạt khoảng một triệu tấn, tăng 2,4% so với cùng kỳ năm trước; trong đó khai thác biển là 961.000 tấn, tăng 3,1%.

Công nghiệp tăng 16,1%

Giá trị sản xuất công nghiệp sáu tháng đầu năm tăng 16,1%, trong đó khu vực kinh tế quốc doanh tăng 9,5%, ngoài quốc doanh tăng 20,8% và khu vực có vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài tăng 18,5% (nếu không tính dầu mỏ, khí đốt, khu vực này tăng đến 23,6%). Nét mới trong sản xuất công nghiệp sáu tháng qua là các ngành sản phẩm chủ lực phục vụ xuất khẩu tăng trưởng khá cao. Kim ngạch xuất khẩu ngành dệt may trong sáu tháng tăng trên 30% so với cùng kỳ năm trước; kim ngạch ngành da giày tăng 21% dù mặt hàng giày da đang bị thuế chống bán phá giá của EU và là ngành có kim ngạch xuất khẩu đứng thứ ba sau dầu khí và dệt may.

 Các ngành công nghiệp khác có tỷ trọng lớn trong GDP vẫn tiếp tục tăng trưởng khá về giá trị sản xuất, trong đó dầu thô tăng 20,6%, than tăng 38,6%; điện tử và linh kiện máy tính tăng 18%, sản phẩm gỗ tăng xấp xỉ 30%, dây điện và cáp điện tăng 38,5%... Tuy nhiên, do một số dự án đầu tư lớn do Bộ Công nghiệp và các tổng công ty triển khai chậm, số vốn giải ngân đạt thấp đã ảnh hưởng không tốt đến tốc độ xây dựng cơ bản và năng lực sản xuất công nghiệp cả nước. Tốc độ giải ngân vốn đầu tư xây dựng cơ bản các dự án này đến nay mới đạt gần 25% kế hoạch năm.

 Đầu tư: đã thực hiện gần một nửa kế hoạch

Tình hình đầu tư xây dựng cơ bản trong nửa đầu năm nay tương đối khả quan. Tổng vốn đầu tư toàn xã hội sáu tháng qua đạt 173.400 tỉ đồng, bằng 46,5% kế hoạch năm. Tổng vốn đầu tư xây dựng cơ bản từ nguồn vốn ngân sách là 26.700 tỉ đồng, bằng 47,6% kế hoạch năm.

 

Với 350 dự án trong sáu tháng qua, lượng vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài đã thu hút được là 2,4 tỉ đô la Mỹ, tăng 20% so với cùng kỳ. Vốn thực hiện 1,8 tỉ đô la Mỹ, tăng 20%. Lĩnh vực công nghiệp có 250 dự án với 1,434 tỉ đô la Mỹ, dịch vụ có 74 dự án với 813,5 triệu đô la, nông lâm thủy sản 15 dự án với 12,3 triệu đô la Mỹ. Ngoài ra, còn có khoảng nửa triệu đô la vốn tăng thêm ở các dự án đang hoạt động. Các địa phương có nhiều dự án là TPHCM, Bà Rịa - Vũng Tàu, Đồng Nai và Bình Dương trong khi các nhà đầu tư từ châu Á và Mỹ là những nhà đầu tư lớn vào Việt Nam trong nửa đầu năm nay.

 Sức mua trong nước tăng 19,7%

Giá cả thị trường sáu tháng đầu năm tiếp tục tăng cao nhưng vẫn trong vòng kiểm soát. Nguyên nhân là nền kinh tế nước ta phải chịu những tác động không thuận lợi từ bên ngoài như giá nhiều loại nguyên, nhiên, vật liệu trên thế giới vẫn tăng hoặc đứng ở mức cao, nhất là giá dầu và giá vàng. Trong nước thì tình hình dịch bệnh, thiên tai, những ảnh hưởng từ việc tăng lương, tăng lãi suất, tăng giá một số mặt hàng thiết yếu đã tạo sức ép tăng giá nói chung.

 Tuy nhiên, tốc độ trượt giá 4% trong sáu tháng đầu năm vẫn được xem là tín hiệu tốt nếu so với tốc độ trượt giá của cùng kỳ hai năm trước (lần lượt là 5,2% và 7,2%).

 Trong bối cảnh giá cả như vậy mà sức mua của thị trường trong nước vẫn tăng 19,7%, đạt  263.600 tỉ đồng, là điều đáng được ghi nhận. 

                       

Một số chỉ tiêu chủ yếu 6tháng

đầu năm 2006 (tăng/giảm so với cùng kỳ nămtrước)

Đvt:%

GDP

+7,4

Giá trị sản xuất nông, lâm nghiệp vàthủy sản

+3,8

Sản lượng thủysản

+8,1

Giá trị sản xuất côngnghiệp

+16,1

Tổng kim ngạch xuấtkhẩu

+25,7

Tổng kim ngạch nhậpkhẩu

+14,1

Tổng mức bán lẻ hàng hóa và dịch vụxã hội

+19,7

Khách quốc tế đến ViệtNam

+7,2

Vốn đầu tư XDCB thuộc nguồn vốn ngânsách nhà nước thực hiện (so với kế hoạch 2006)

47,6

Giá tiêu dùng tháng 6-2006 so vớitháng 12-2005

+4,0

Nguồn : Tổng cụcThống kê

             

Tăng trưởng GDP sáu tháng đầu năm (%)

Năm 2004

Năm 2005

Năm 2006

7,00

7,63

7,4

Tốc độ tăng trưởng công nghiệp sáu tháng đầu năm (%)

Năm 2004

Năm 2005

Năm 2006

15,4

17,8

16,1

Nguồn: Tổng cục Thống kê

 

PGS. TS. Nguyễn Sinh Cúc

Trích Thời báo Kinh tế Sài Gòn tháng 07/2006

(407 Lượt xem)

CÁC TIN BÀI KHÁC:
Ngôn ngữ Ngôn ngữ
English (United States) Tiếng Việt (Việt Nam)
Hoạt động nghiên cứu khoa học Hoạt động nghiên cứu khoa học
Tin hoạt động khoa học tháng 03 năm 2019 (8/4/2019)

Tin hoạt động khoa học tháng 02 năm 2019 (11/3/2019)

Tin hoạt động khoa học tháng 01 năm 2019 (21/2/2019)


Số lượt truy cập Số lượt truy cập
19603176