KINH TẾ VĨ MÔ - KINH TẾ NGÀNH KINH TẾ VĨ MÔ - KINH TẾ NGÀNH
Dự báo kinh tế Việt Nam năm 2006 – 2007

Trong báo cáo mới nhất vừa công bố tháng 4 năm 2006, cơ quan Nghiên cứu kinh tế quốc tế của Anh (EIU) đã đưa ra một số điều chỉnh dự báo kinh tế vĩ mô của Việt Nam năm 2006 – 2007.

TRIỂN VỌNG CHÍNH SÁCH KINH TẾ

Các xu hướng chính sách: Chính phủ Việt Nam tiếp tục nhận được sự ủng hộ từ phía các nhà tài trợ đa phương trong việc hoạch định chính sách kinh tế và các cuộc đàm phán song phương và đa phương về việc gia nhập Tổ chức Thương mại thế giới (WTO) đã và đang diễn ra một cách thuận lợi. Mặc dù việc gia nhập WTO của Việt Nam sẽ làm tăng sức ép cạnh tranh đối với các doanh nghiệp trong nước, song động thái này sẽ giúp cải thiện sức hấp dẫn của môi trường kinh doanh của Việt Nam nếu như Chính phủ đáp ứng các cam kết về cải cách của mình. Chính phủ đã ưu tiên đẩy mạnh việc phát triển kinh tế khu vực tư nhân thông qua những thay đổi luật pháp với việc ban hành Luật Đầu tư và Luật Doanh nghiệp có hiệu lực vào giữa năm 2006. tháng 3/2006 một nghị định đã có hiệu lực cho phép các ngân hàng có vốn sở hữu nước ngoài được mở cửa hoạt động tài Việt Nam. Tiến trình cải cách các doanh nghiệp nhà nước và các ngân hàng thương mại quốc doanh vẫn diễn ra chậm chạp. Tuy nhiên, nếu đề án cổ phần hóa Ngân hàng Ngoại thương Việt Nam (VCB) được triển khai vào năm 2006, sẽ tạo động lực mạnh mẽ đối với tiến trình cải cách doanh nghiệp nhà nước.

Chính sách tài chính: Mặc dù thâm hụt ngân sách hàng năm dự kiến sẽ tăng trong năm 2006 – 2007 song Chính phủ sẽ không phải đối mặt với những khó khăn về tài chính và các nhà tài trợ nước ngoài sẽ cam kết tiếp tục ủng hộ Việt Nam. Ngân sách nhà nước năm 2006 đã được Quốc hội thông qua vào đầu tháng 11/2005, đề ra mục tiêu thâm hụt (không kể trả nợ) ở mức khoảng 15,7 tỷ đồng (1 tỷ USD), tương đương khoảng 1,8% tổng sản phẩm quốc nội (GDP), cao hơn so với mức 12,8 tỷ đồng của năm 2005. Tổng thu ngân sách tiếp tục tăng, song doanh thu từ hải quan sẽ giảm sau khi các biện pháp tự do hóa thương mại được áp dụng. Tuy nhiên, tình hình này sẽ được bù đắp một phần từ việc thu thuế hiệu quả hơn và hợp pháp hóa các hình thức đánh bạc. Tăng trưởng kinh tế cao sẽ tiếp tục góp phần vào việc tăng nguồn thu. Chi tiêu Chính phủ sẽ tiếp tục tăng trong giai đoạn 2006 – 2007. Năm 2006 ngân sách chi tiêu Chính phủ tăng gần 26% so với năm 2005.

Chính sách tiền tệ: Cuối năm 2005, cơ quan quản lý tiền tệ đã thông báo cho Quỹ Tiền tệ quốc tế về kế hoạch kiểm soát tăng trưởng tín dụng. Đến nay các biện pháp thắt chặt chính sách tiền tệ đã không đủ mạnh để giảm nhu cầu tín dụng xuống mức bền vững (theo số liệu của Quỹ tiền tệ quốc tế thì các khoản tín dụng chưa thanh toán trong quý 3 năm 2005 đã tăng khoảng 37% so với cùng kỳ năm ngoái). Ngân hàng Nhà nước Việt Nam cũng đã thực hiện việc nâng mức lãi suất căn bản vào một số thời điểm trong năm 2005, và mới nhất là 8,25% vào tháng 12/2005 cao hơn so với mức 7,5% vào cuối năm 2004, tuy nhiên tỷ lệ này vẫn sẽ còn thay đổi sau đó. Chính phủ tuyên bố rằng sẽ cố gắng kiểm soát để tỷ lệ lạm phát thấp hơn tốc độ tăng trưởng kinh tế. Bên cạnh đó, Chính phủ cũng đã điều chỉnh lại mục tiêu tăng trưởng kinh tế từ 8,5% xuống còn 8%, đây là mục tiêu mà Chính phủ cho rằng phù hợp hơn cùng với mức lạm phát giảm. Song điều này sẽ không tạo sức ép đối với Ngân hàng nhà nước Việt Nam nhằm thắt chặt hơn nữa chính sách tiền tệ. Tuy nhiên, nếu các cơ quan quản lý thực hiện các cam kết của mình với Quỹ Tiền tệ quốc tế thì tốc độ thắt chặt chính sách tiền tệ sẽ nhanh hơn và tăng trưởng tín dụng dự báo sẽ giảm trong giai đoạn 2006 – 2007.

DỰ BÁO KINH TẾ

Dự báo kinh tế thế giới: Tốc độ tăng trưởng của các thị trường xuất khẩu lớn nhất của Việt Nam là Mỹ sẽ giảm trong giai đoạn 2006 – 2007 do hạn chế về cầu đối với hoạt động xuất khẩu nhưng thị trường xuất khẩu sang các nước của châu Á (trừ Nhật Bản) và châu Úc sẽ tăng trưởng mạnh và có thể bù đắp phần giảm của thị trường xuất khẩu sang Mỹ. Tăng trưởng của khu vực EU, một thị trường quan trọng đối với hàng hóa xuất khẩu của Việt Nam cũng sẽ tăng trong giai đoạn này. Riêng thị trường khu vực Trung Đông, việc Iran có tham vọng sản xuất hạt nhân đã làm phát sinh ra những căng thẳng và lo ngại của các nước trong khu vực, do đó giá dầu thô dự báo sẽ được điều chỉnh lại với mức giá 60 USD/thùng năm 2006 xuống 55,3 USD/thùng năm 2007.

Tăng trưởng kinh tế của Việt Nam: Theo ước tính chính thức thì tốc độ tăng trưởng kinh tế trong quý I năm nay đạt 7,2%, có được kết quả này là nhờ sự tăng trưởng mạnh trong sản xuất công nghiệp, tăng khoảng 14,7% so với cùng kỳ năm trước. Song vẫn thấp hơn so với mục tiêu của Chính phủ đề ra là tăng trưởng 8% trong năm 2006. Dự báo nền kinh tế Việt Nam sẽ tiếp tục đạt tỷ lệ tăng trưởng khoảng từ 7 – 8% trong giai đoạn 2006 – 2007. Ngành công nghiệp vẫn giữ vai trò là động lực chính đóng góp vào sự tăng trưởng kinh tế của Việt Nam, với tốc độ tăng trưởng gần 10%/năm trong giai đoạn 2006 – 2007. Sức mạnh của ngành công nghiệp thể hiện ở tính đa dạng của các cơ sở sản xuất công nghiệp và sự năng động của ngành dệt may trong bối cảnh môi trường thương mại tự do hóa đang có chiều hướng gia tăng. Ngành dệt may cũng sẽ có thêm cơ hội khu Việt Nam gia nhập WTO và các nhà xuất khẩu sẽ không còn là đối tượng chịu hạn ngạch xuất khẩu sang Mỹ. Tuy nhiên, cũng có những mối quan ngại về việc liệu ngành công nghiệp này có khả năng cạnh tranh với Trung Quốc hay không khi được hưởng tự do thuế quan, nhưng chi phí ở Việt Nam cao hơn và các nhà sản xuất nhập khẩu với tỷ lệ đầu vào lớn cùng với cơ sở hạ tầng yếu kém không chú trọng phát triển các ngành công nghiệp phụ trợ hiệu quả.

Ngành dịch vụ sẽ tiếp tục duy trì tốc độ tăng trưởng nhanh, cụ thể là các dịch vụ bán lẻ, bưu chính và viễn thông. Ngành du lịch cũng sẽ tiếp tục tăng trưởng mạnh với lượng du khách quốc tế đến Việt Nam tăng mạnh (có khoảng 1 triệu du khách quốc tế đến Việt Nam trong quý I năm 2006, tăng 15% so với cùng kỳ năm trước). Dự báo tăng trưởng đầu tư cố định sẽ tăng mạnh trong giai đoạn 2006 – 2007 nhờ các cam kết về đầu tư trực tiếp nước ngoài trong năm 2005 tăng lên. Việc gia nhập WTO sẽ hỗ trợ cho tăng trưởng xuất khẩu, song việc giảm hàng rào thuế quan sẽ làm cho hàng hóa nhập khẩu trở nên lấn át các sản phẩm sản xuất trong nước.

Lạm phát: Lạm phát giá tiêu dùng đã giảm xuống còn 0,5% trong tháng 3/2006, tính chung cả quý I năm 2006 chỉ số lạm phát đã giảm xuống còn 2,8% so với mức 3,7% cùng kỳ năm trước do giá lương thực, thực phẩm giảm. Tuy nhiên, theo dự báo thì giá nhiên liệu và lương thực thực phẩm, giá các mặt hàng thiết yếu khác có khả năng sẽ tăng cao hơn, tạo sức ép tăng đối với mặt bằng giá tổng thể trong năm nay. Mặc dù Chính phủ đã cố gắng giảm thiểu tác động của giá dầu thô toàn cầu tăng đối với giá nhiên liệu bán lẻ trong nước (tháng 4/2006 hàng rào thuế quan đối với các sản phẩm xăng dầu đã được cắt giảm từ 5% xuống còn 0%) nhưng đã làm tăng gánh nặng đối với ngân sách nhà nước trong việc trợ cấp giá nhiên liệu khiến việc trợ cấp thêm không chắc chắn. Bên cạnh đó, lạm phát cũng bị tác động bởi sức ép từ phía cầu và nhu cầu tiêu dùng có xu thế tăng trong giai đoạn 2006 – 2007, sẽ làm tăng sức ép về giá. Tuy nhiên, theo dự báo thì lạm phát sẽ giảm nhẹ trong năm nay và tiếp tục giảm trong năm 2007 do giá dầu thô thế giới giảm.

Tỷ giá hối đoái: Do tỷ lệ lạm phát của Việt Nam cao, Chính phủ lại duy trì khả năng cạnh tranh xuất khẩu sẽ làm cho Việt Nam đồng tiếp tục bị mất giá trong giai đoạn 2006 – 2007. Tuy nhiên, đồng đô la Mỹ sẽ tiếp tục có xu hướng yếu đi so với một số đồng tiền giao dịch toàn cầu chủ yếu, nên đồng Việt Nam đồng sẽ không bị mất giá nhanh so với đồng đô la Mỹ và sẽ yếu ở mức độ tương đối nhanh so với đồng Yên Nhật và đồng Euro. Dự báo tỷ giá hối đoái bình quân giữa đồng Việt Nam và đồng đô la Mỹ là 16.520 đồng/USD so với mức bình quân của năm 2005 là 15,857 đồng/USD.

Kinh tế đối ngoại: Tăng trưởng doanh thu xuất khẩu sẽ vẫn còn mạnh trong giai đoạn 2006 – 2007. Giá dầu thô thế giới sẽ tiếp tục tăng trong năm 2006, do đó doanh thu từ các mặt hàng xuất khẩu chủ yếu của Việt Nam cũng sẽ tăng. Việc giá gạo giảm và thuế chống phá giá đã được EU dỡ bỏ đối với các mặt hàng xuất khẩu da giày sẽ khiến doanh thu của ngành này giảm song sẽ được bù đắp từ xuất khẩu thủy sản, công nghệ thông tin và đồ gỗ gia dụng. Dự báo doanh thu từ xuất khẩu trong năm 2007 sẽ tăng khi Việt Nam gia nhập WTO vào cuối năm.

Tuy nhiên, tài khoản thương mại hàng hóa giai đoạn 2006 – 2007 vẫn bị thâm hụt và sẽ tăng mạnh trong năm 2007 do giá của một số mặt hàng xuất khẩu và giá dầu thế giới giảm. Tăng trưởng nhập khẩu đã và đang có xu hướng giảm kể từ cuối năm 2005, tuy nhiên sẽ tăng trở lại khi Việt Nam hạ thấp hàng rào thuế quan nhằm đáp ứng các cam kết về việc gia nhập ASEAN, khu vực mậu dịch tự do (AFTA) và WTO. Doanh thu du lịch sẽ bù đắp việc tăng nhập khẩu các dịch vụ liên quan thương mại. Việc các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài liên tục mở rộng các hoạt động cũng làm tăng thâm hụt thu nhập do việc chuyển thu nhập và lợi nhuận về nước của các nhà đầu tư. Các luồng chuyển giao vãng lai trong nước sẽ vẫn còn lớn nhờ những nỗ lực của Chính phủ nhằm tạo điều kiện thuận lợi cho lượng kiều hối gửi về nước tăng lên. Tuy nhiên, những luồng vốn như thế này sẽ không đủ để ngăn chặn thâm hụt tài khoản vãng lai nới rộng ở mức 3,7% của GDP trong năm 2007.

Tóm tắt dự báo kinh tế Việt Nam

 

2004a

2005b

2006c

2007c

Tăng trưởng GDP thực tế (%)

7,7

8,4a

7,7

7,2

Tăng trưởng sản xuất công nghiệp (%)

16,0

17,2a

11,3

12,2

Tăng trưởng sản xuất nông nghiệp (%)

4,4

4,0a

3,5

3,0

Lạm phát giá tiêu dùng (trung bình)(%)

7,8

8,3a

7,6

5,9

Lạm phát giá tiêu dùng (cuối năm)(%)

9,7

8,9a

7,0

5,3

Lãi suất cho vay (%)

9,7

11,2

13,2

13,5

Cân đối Chính phủ (% GDP)

-1,4b

-1,6

-1,8

-2,7

Xuất khẩu hàng hóa – fob (tỷ USD)

26,5

32,2

37,5

42,0

Nhập khẩu hàng hóa – fob (tỷ USD)

28,8

33,5

39,0

45,2

Cán cân tài khoản vãng lai (tỷ USD)

-0,9

-0,3

-0,8

-2,3

Cán cân tài khoản vãng lai (% GDP)

-2,0

-0,5

-1,4

-3,7

Nợ nước ngoài (tỷ USD)

18,2b

20,2

21,3

23,5

Tỷ giá hối đoái VND/USD (Trung bình)

15.740

15.857

16.140

16.520

Tỷ giá hối đoái VND/100JPY (Trung bình)

14.557

14.406

14.252

15.809

Tỷ giá hối đoái VND/EUR (cuối năm)

21.359

18.760

21.375

21.941

Tỷ giá hối đoái VND/SDR (cuối năm)

24.502

22.731

24.572

25.437

a- Thực hiện, b- Ước tính, C-Dự báo

Tổng hợp theo Country report của EIU tháng 4/2006

Nguyễn Quốc Huy (Trung tâm TT Dự báo KTXH Quốc gia)

Nguồn: Tạp chí Kinh tế và Dự báo 6/2006

(402 Lượt xem)

CÁC TIN BÀI KHÁC:
Ngôn ngữ Ngôn ngữ
English (United States) Tiếng Việt (Việt Nam)
Hoạt động nghiên cứu khoa học Hoạt động nghiên cứu khoa học
Tin hoạt động nghiên cứu khoa học tháng 9 năm 2019 (16/10/2019)

Hội thảo khoa học "Tác động của Cách mạng công nghiệp lần thứ 4 và Kinh tế số đến nguồn nhân lực, cách thức vận hành và chuyển dịch cơ cấu kinh tế của Thành phố" (10/9/2019)

Tin hoạt động khoa học tháng 8 năm 2019 (4/9/2019)


Số lượt truy cập Số lượt truy cập
20221009