KINH TẾ VĨ MÔ - KINH TẾ NGÀNH KINH TẾ VĨ MÔ - KINH TẾ NGÀNH
Một số điểm tồn tại bất hợp lý của Vùng kinh tế trọng điểm phía Nam và giải pháp phát triển bền vững có hiệu quả.

 Về cơ chế tổ chức và điều hành vùng kinh tế trọng điểm

Mặc dù ngày 18-2-2004 Thủ tướng Chính phủ ra Quyết định số 20/2004/QĐ-TTG thành lập Tổ chức điều phối phát triển các vùng kinh tế trọng điểm, và sau đó, Viện Chiến lược (Bộ Kế hoạch và Đầu tư) đã xây dựng cơ chế quản lý vùng kinh tế trọng điểm, nhưng tổ chức các tỉnh nằm trong vùng kinh tế trọng điểm thể hiện chưa khoa học và hợp lý. Ví dụ, Vùng kinh tế trọng điểm phía Nam (trước còn có tên gọi vùng kinh tế động lực) chỉ bao gồm 4 tỉnh: Đồng Nai, Thành phố Hồ Chí Minh, Bà Rịa - Vũng Tàu và Bình Dương; năm 2003 thêm 3 tỉnh: Tây Ninh, Bình Phước và Long An; cuối năm 2005, thêm tỉnh Tiền Giang. Hiện nay tỉnh Vĩnh Long và Bình Thuận đang đề nghị Chính phủ gia nhập vùng kinh tế trọng điểm này. Vấn đề đặt ra ở đây, tổ chức vùng kinh tế trọng điểm do yếu tố nào quyết định? Ranh giới vùng được xác định như thế nào về lý thuyết và thực tiễn? Đây là vùng thuộc đối tượng phát triển; đối tượng để tổ chức quy hoạch hay là đối tượng trọng điểm để đầu tư. Có phải vùng kinh tế trọng điểm là con số cộng của các tình thành viên, bao gồm tỉnh mạnh về kinh tế và tỉnh có kinh tế phát triển yếu? Vậy, vai trò của vùng kinh tế trọng điểm giúp ích gì cho các tỉnh là thành viên và các tỉnh lân cận nằm ngoài vùng?

Dường như các vùng kinh tế trọng điểm được lập ta nhưng chưa có sự chuẩn bị chu đáo về phía Chính phủ: các vùng kinh tế trọng điểm được lập ra ở những năm thập niên 90, nhưng Tổ chức điều phối phát triển các vùng kinh tế trọng điểm mới được Thủ tướng Chính phủ lập vào ngày 23-2-2004, cơ chế quản lý vùng mới được thông qua cuối năm 2004, và nhiều năm qua cho tới nay, sự thành lập các vùng và hiệu quả hoạt động và sự ảnh hưởng của chúng còn thấp.

Đến nay đầu năm 2007, sau gần 20 năm có quyết định lập Vùng kinh tế trọng điểm phía Nam (trước dây có tên gọi khác) nhưng chưa có kế hoạch phát triển chung nào, mới có quy hoạch và cũng chưa có công trình khoa học nào đánh giái việc tác động của Vùng kinh tế trọng điểm phía Nam với bản thân các tỉnh thành viên, với cả khu vực và cả nước.

Chất lượng quy hoạch còn thấp: Quy hoạch tổng thể phát triển kinh tế - xã hội của các vùng kinh tế trọng điểm đã được Thủ tướng Chính phủ phê duyệt từ năm 1998 và đến 13-8-2004 được bổ sung thêm, theo các Quyết định 145, 146, 147/2004/QĐ-TTG, Thủ tướng Chính phủ lại một lần nữa phê duyệt phương hướng chủ yếu phát triển kinh tế - xã hội của các vùng kinh tế trọng điểm bắc Bộ, Trung Bộ và Nam Bộ đến năm 2010 và tầm nhìn đến năm 2020. Đầu năm 2006, đã kết nạp thêm thành viên mới (và có nhiều khả năng kết nạp tiếp), vậy quy hoạch tổng thể có thay đổi. Ngoài ra, các chiến lược và quy hoạch đã được phê duyệt chưa gắn với các tỉnh khác ngoài vùng kinh tế trọng điểm, chưa găn với tầm nhìn xa hơn của cả khu vực và thế giới. Thường kế hoạch đi sau quy hoạch để thực hiện quy hoạch, vậy có cần thiết hay không xây dựng kế hoạch ở tầm quản lý vùng kinh tế trọng điểm? Nếu không, thì tổ chức thực hiện quy hoạch tổng thể của các vùng kinh tế trọng điểm được thực hiện thế nào?

Hình thức cơ chế phối hợp giữa các tỉnh trong vùng kinh tế trọng điểm vẫn mang tính tự phát và chỉ dừng lại ở mức cam kết các thỏa thuận giữa lãnh đạo các địa phương. Do đó, các chương trình phối hợp phát triển kinh tế còn mang tính cục bộ, chưa cho phép phát huy có hiệu quả lợi thế so sánh ở từng vùng. Các tỉnh trong một vùng kinh tế trọng điểm cạnh tranh không lành mạnh với nhau trong đầu tư, phát triển cơ sở hạ tầng.

Chưa có sự phân công lao động giữa các vùng kinh tế trọng điểm, giữa các tỉnh trong cùng một vùng kinh tế trọng điểm, dẫn tới đầu tư trùng lắp, các tỉnh, các vùng không phát huy được lợi thế so sánh của mình.

Trừ dầu thô, thì sản phẩm công nghiệp ở các vùng kinh tế trọng điểm tương tự nhau. Cơ bản vẫn là sản phẩm gia công: dệt, may, giày dép, lắp ráp điện tử... khả năng cạnh tranh chưa cao, giá trị gia tăng thấp...

Tỷ trọng ngành dịch vụ còn thấp, chưa đáp ứng yêu cầu phát triển của các vùng kinh tế trọng điểm. Ở đây, chúng ta đang thiếu cơ chế, chính sách khuyến khích.

Cơ chế, chính sách hiện tại áp dụng ở các vùng kinh tế trọng điểm gần như không có gì khác biệt so với các cơ chế áp dụng đối với các tỉnh nằm ngoài vùng kinh tế trọng điểm. Sự năng động trong phát triển ở một số địa phương chru yếu do sáng kiến của lãnh đạo ở từng tỉnh, năng động tới mức nheìeu tỉnh nằm trong các vùng kinh tế trọng điểm cũng ban hành các cơ chế chính sách mang tính “xé rào” hoặc vi phạm cơ chế pháp lý. Phải chăng sự “trọng điểm” của các vùng chưa đủ hấp dẫn cho các tỉnh thuộc vùng kinh tế trọng điểm?

Cơ chế chính sách thuế, về giá đất, về tiền lương... ở các tỉnh khác nhau, mặc dù có điều kiện kinh tế tương tự nhau trong một vùng kinh tế trọng điểm. Ví dụ, khu công nghiệp Sóng Thần (Bình Dương) chỉ cách khu chế xuất Linh Trung (Thành phố Hồ Chí Minh) một con đường, hay vùng giáp ranh giữa Long An và Thành phố Hồ Chí Minh, cơ chế chính sách của Nhà nước quy định khác nhau dẫn tới khó khăn trong đền bù giải tỏa mặt bằng, thu hút các nhà đầu tư và lao động....

Năng lực tài chính giữa các tỉnh trong cùng một vùng kinh tế trọng điểm khác nhau, nên khó khăn trong việc thực hiện các dự án liên tỉnh và hàng loạt các vấn đề như môi trường, sử dụng tài nguyên nước, đất đai, lao động...

Qua nghiên cứu, thì việc lập ra Vùng kinh tế trọng điểm phía Nam nói riêng và các vùng kinh tế trọng điểm khác nói chung vẫn mang nặng tính hình thức, dường như sự lớn mạnh của Vùng kinh tế trọng điểm phía Nam là do nỗ lực của các tỉnh thành viên: “ganh đua”, “cạnh tranh” để phát triển dẫn đến sự phát triển chung của cả vùng chứ không phải do việc lập vùng, có sự đồng tâm nhất trí trong việc thực hiện kế hoạch chung mà nó phát triển.

Một số giả pháp.

Việc đề xuất các giải pháp cụ thế là vấn đề lớn ở tầm quốc gia, phải có thời gian và kinh phí để nghiên cứu. Ở đây đề xuất 6 quan điểm làm cơ sở nền tảng cho việc xây dựng các cơ chế chính sach góp phần đưa Vùng kinh tế trọng điểm phía Nam đi vào cuộc sống, có ý nghĩa thực tiễn đối với việc phát triển của vùng và của cả nước.

- Vùng kinh tế trọng điểm không thể xác lập mang tính chủ quan, là con số cộng của các tỉnh thành viên.

- Phải xác định sứ mạng và vai trò của Vùng đối với Vùng, đối với cả nước và đối với khu vực Đông, Đông - Nam châu Á.

- Cơ chế điều phối hoạt động của vùng kinh tế trọng điểm không bị ràng buộc và chia cắt theo địa giới hành chính.

- Vùng kinh tế được gọi là trọng điểm thì phải có cơ chế chính sach hoạt động đặc biệt để bảo đảm sự phát triển thuận lợi, thực hiện sứ mệnh đầu tàu dẫn dát các vùng kinh tế khác.

- Muốn bảo đảm sự phát triển bền vững các vùng kinh tế trọng điểm thì phải thực hiện tốt quy trình kế hoạch hóa ở cấp vùng: chiên lược phát triển - quy hoạch - kế hoạch dài hạn, trung hạn và ngắn hạn.

- Bảo đảm sự ổn định của cơ chế chính sách là yếu tố quan trọng quyết định sự bền vững trong phát triển của các vùng kinh tế trọng điểm.

Hai mươi năm đổi mới cơ chế chính sách phát triển kinh tế từ nền kinh tế kế hoạch hóa tậpt rung sang nền kinh tế thị trường, nền king tees Việt Nam nổi lên như là điểm hình của sự phát triển nhanh, hội nhập mạnh mẽ với nền kinh tế thế giới. Trong bước đường phát triển của Việt Nam, có sự đóng góp to lớn của Vùng kinh tế trọng điểm phía Nam - “đầu tàu kinh tế của cả nước”. Tuy nhiên, sự phát triển của vùng còn có những vấn đề tồn tại, vướng mắc và làm giảm hiệu quả sự ảnh hưởng của vùng đối với chính mỗi tỉnh thành viên và khu vực. Việc đề xuất hệ thống giải pháp về cơ chế chính sách và biện pháp khắc phục các tồn tại đã nêu trong bài viết này có ý nghĩa quan trọng và cấp bách góp phần duy trì sự phảt triển ổn định cao cảu Vùng kinh tế trọng điểm phía Nam.

 
Biên tập và tổng hợp từ nguồn "TC Cộng sản tháng 09/2007”

(290 Lượt xem)

CÁC TIN BÀI KHÁC:
Ngôn ngữ Ngôn ngữ
English (United States) Tiếng Việt (Việt Nam)
Hoạt động nghiên cứu khoa học Hoạt động nghiên cứu khoa học
Tin hoạt động khoa học tháng 10 năm 2019 (4/11/2019)

Tin hoạt động nghiên cứu khoa học tháng 9 năm 2019 (16/10/2019)

Hội thảo khoa học "Tác động của Cách mạng công nghiệp lần thứ 4 và Kinh tế số đến nguồn nhân lực, cách thức vận hành và chuyển dịch cơ cấu kinh tế của Thành phố" (10/9/2019)


Số lượt truy cập Số lượt truy cập
20337912