KINH TẾ VĨ MÔ - KINH TẾ NGÀNH KINH TẾ VĨ MÔ - KINH TẾ NGÀNH
Dự báo tăng trưởng kinh tế thành phố Hồ Chí Minh giai đoạn 2006 - 2010

1. Tăng trưởng

Dự báo giai đoạn 2006-2010 kinh tế Thành phố có tốc độ tăng trưởng cao hơn giai đoạn 2001-2005. Cơ sở chủ yếu đề ra dự báo:

+ Kinh tế Thành phố đang chu kỳ tăng trưởng đi lên, tốc độ năm sau cao hơn năm trước.

+ Xét về tổng cung, tỉ lệ đầu tư trên GDP của Thành phố hiện còn thấp (thấp hơn cả nước), do đó có thể tăng lên đáng kể.

+ Xét về phương diện tổng cầu, thì tiêu dùng dân cư, đầu tư, chi tiêu ngân sách và xuất khẩu đều có những mặt thuận lợi hơn giai đoạn trước. Tiêu dùng dân cư cả nước giai đoạn tới sẽ cao hơn vì dự đoán tốc độ tăng trưởng cả nước sẽ cao hơn. Đầu tư của dân cư có xu hướng tăng lên vì sự thông thoáng của Luật Doanh nghiệp và sự cải thiện của môi trường đầu tư; đầu tư từ ngân sách Thành phố có xu hướng tăng lên vì được TW phân cấp và khai thác các nguồn thu khác như từ đất, trái phiếu. Xuất khẩu sẽ tăng, khi Việt Nam trở thành thành viên WTO, mở ra nhiều cơ hội về thị trường xuất khẩu.

+ Kiều hối chuyển về ngày càng tăng vừa kích thích tổng cầu, vừa kích thích tổng cung nếu chuyển thành đầu tư.

+ Đầu tư nước ngoài bước đầu có dấu hiệu cải thiện, tăng nhanh trong khu vực dịch vụ.

+ Phát triển mạnh mẽ công nghiệp trong Vùng kinh tế trọng điểm phía Nam kéo theo nhu cầu lớn về dịch vụ và đây là thế mạnh của Thành phố.

Dự báo tốc độ tăng trưởng GDP của Thành phố giai đoạn 2006 - 2010 là 12%.

Trên cơ sở dự báo tăng trưởng kinh tế chung, dự báo tốc độ tăng trưởng giá trị gia tăng các ngành kinh tế như sau:

Nông nghiệp (khu vực I):                      từ 5% trở lên

Công nghiệp-xây dựng (khu vực II):      12,2%; trong đó giá trị gia tăng công nghiệp tăng bình quân 12,5%/năm

Dịch vụ (khu vực III):                           12%

Theo dự báo trên thì, công nghiệp sẽ có tốc độ tăng trưởng chậm hơn giai đoạn 2001-2005 một ít và dịch vụ có tốc độ tăng trưởng nhanh hơn giai đoạn 2001-2005. Công nghiệp có tốc độ tăng trưởng chậm hơn giai đoạn trước do Thành phố tập trung điều chỉnh cơ cấu các ngành công nghiệp, theo đó tạm thời cần chấp nhận sự sụt giảm về tốc độ tăng trưởng ở một số ngành công nghiệp. Như đã phân tích ở phần trước, công nghiệp Thành phố hiện nay chiếm tỉ trọng lớn vẫn là các ngành chế biến thực phẩm, dệt, may, giày da, cao su - nhựa, chất tẩy rửa – hóa chất. Đây là những ngành thâm dụng lao động, thâm dụng tài nguyên thiên nhiên, hoặc gây ô nhiễm môi trường. Định hướng chuyển dịch cơ cấu kinh tế Thành phố sang những ngành kỹ thuật cao, giá trị gia tăng cao như điện tử - tin học - viễn thông, cơ khí chế tạo, vật liệu mới, hóa - dược, công nghệ sinh học thì tỉ trọng các ngành truyền thống trên sẽ giảm xuống. Công nghiệp Thành phố phải chấp nhận sự sụt giảm tăng trưởng tạm thời ở các ngành này để tạo ra cơ cấu công nghiệp hiện đại và bền vững trong tương lai. Tuy nhiên, dự báo cũng dự trù là quá trình điều chỉnh cơ cấu công nghiệp của Thành phố có thể không ảnh hưởng tiêu cực đến tốc độ tăng trưởng chung của công nghiệp. Trong trường hợp đó, các ngành, sản phẩm công nghiệp mới phát triển mạnh mẽ bù đắp được sự sụt giảm tăng trưởng ở các ngành truyền thống. Bản thân các ngành truyền thống cũng có sự điều chỉnh kịp thời theo hướng tăng hàm lượng kỹ thuật, chất xám và giá trị gia tăng trong cơ cấu sản xuất. Thị trường các sản phẩm công nghiệp được củng cố và mở rộng ở cả trong và ngoài nước. Theo đó, các ngành công nghiệp chủ lực, truyền thống của Thành phố như chế biến thực phẩm, dệt-may, cao su-nhựa, chất tẩy rửa-hóa chất,… tiếp tục chiếm tỉ trọng lớn so với cả nước, và đi vào giai đoạn phát triển chiều sâu với hàm lượng giá trị gia tăng tăng dần, đáp ứng nhu cầu tiêu dùng tăng nhanh của thị trường nội địa. Thị trường xuất khẩu của các ngành này cũng được mở rộng. Đối với các ngành mũi nhọn và kỹ thuật cao, sản xuất tăng cao cho cả nhu cầu tiêu dùng trong nước (như cơ khí, hóa-dược) và nhu cầu xuất khẩu (như điện tử - tin học); bước đầu hình thành được các mạng lưới ngành công nghiệp hỗ trợ. Các khu công nghệ kỹ thuật cao, khu phần mềm Quang Trung, … được lấp đầy và phát huy tác dụng. Trong trường hợp này, tăng trưởng GDP công nghiệp có thể trên 12% và GDP chung có thể cao hơn dự kiến.

Đối với các ngành dịch vụ, nhìn chung triển vọng phát triển là tốt hơn giai đoạn 2001-2005. Sau 10 năm có tốc độ tăng trưởng giảm sút so với công nghiệp (1996-2005), dự kiến trong giai đoạn 2006-2010, các ngành dịch vụ đạt tốc độ tăng trưởng xấp sĩ với công nghiệp, tạo điều kiện để tăng trưởng cao hơn công nghiệp trong giai đoạn sau 2010. Dịch vụ phát triển mạnh mẽ là do công nghiệp phát triển vững chắc hơn giai đoạn trước tạo nhu cầu đối với các sản phẩm dịch vụ, và thu nhập người dân Thành phố ngày càng tăng cao và các yêu cầu về dịch vụ sẽ phát triển cả về số lượng và chất lượng. Tăng trưởng công nghiệp của các địa phương trong vùng cũng sẽ làm gia tăng nhu cầu dịch vụ của Thành phố. Tăng trưởng dịch vụ đang xu hướng đi lên, giá trị gia tăng của khu vực dịch vụ trong năm 2004, tăng hơn 11% và liên tục tăng trong những năm gần đây. Hơn nữa, quá trình tự do hóa và xã hội hóa đầu tư ở tất cả các lĩnh vực dịch vụ sẽ tạo ra động lực mạnh mẽ phát triển các ngành này. Theo đó, các ngành dịch vụ còn độc quyền Nhà nước hiện nay sẽ được mở cửa cho khu vực dân doanh trong nước tham gia phát triển. Khu vực đầu tư nước ngoài sẽ tham gia phát triển hầu hết các lĩnh vực dịch vụ của Thành phố theo lộ trình WTO. Trung ương sẽ phân cấp quản lý và ban hành nhiều chính sách thuận lợi về phát triển thị trường dịch vụ. Các dịch vụ sẽ phát triển rất nhanh bao gồm (1) Tài chính – ngân hàng - bảo hiểm, (2) Dịch vụ khoa học công nghệ, (3) Viễn thông, (4) Du lịch, (5) Thương mại, (6) Dịch vụ cảng, vận tải, hậu cần.

Theo dự báo, để đạt được tốc độ tăng trưởng GDP 12%/năm thì đầu tư sẽ khởi sắc ở hầu hết các lĩnh vực công nghiệp, dịch vụ và đầu tư công. Các doanh nghiệp Nhà nước cả TW và địa phương chuyển hướng đầu tư mạnh vào công nghệ cao, vào R&D. Đầu tư của khu vực dân doanh trong nước sẽ được mở rộng ra hầu hết các lĩnh vực dịch vụ hiện đại và bắt đầu đầu tư vào công nghệ cao. Đầu tư nước ngoài sẽ gia tăng mạnh trở lại, nhất là ở các ngành dịch vụ. Đầu tư và trí tuệ của bà con Việt kiều được phát huy trong quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế này.

Đối với ngành nông nghiệp, dự trù tốc độ tăng trưởng trung bình là 5%/năm, tốc độ này cao hơn tốc độ tăng trưởng giai đoạn 2001-2005. Cơ sở để đề ra dự báo là tuy diện tích đất nông nghiệp tiếp tục bị thu hẹp do quá trình đô thị hóa và phát triển công nghiệp, dự kiến giai đoạn 2006-2010 giảm khoảng 10.000-11.000 ha (theo Quyết định 1060/QĐ-TTg ngày 4/10/2004 của Thủ tướng Chính phủ) và tốc độ tăng trưởng ngành thủy sản (tôm) giai đoạn 2006-2010 sẽ không cao như giai đoạn 2001-2005 nhưng các sản phẩm nông nghiệp khác có triển vọng sẽ tăng trưởng đột biến hơn giai đoạn 2001-2005 như cây giống, con giống, hoa kiểng, cá kiểng... Ngành nông nghiệp có tỉ trọng rất nhỏ trong cơ cấu GDP của Thành phố nên tốc độ tăng trưởng của ngành nông nghiệp không ảnh hưởng chung đến tốc độ tăng trưởng kinh tế Thành phố.

Cơ cấu năm 2010 gần như ổn định so với năm 2005; chấm dứt tình trạng 10 năm giảm sút tỷ trọng khu vực dịch vụ trong cơ cấu GDP (năm 1995 khu vực dịch vụ chiếm 57,8%; năm 2000: 53,2%; năm 2005: 50,8%). Tuy nhiên cơ cấu nội bộ của khu vực dịch vụ sẽ phát triển tích cực hơn với những ngành dịch vụ cao cấp mà Thành phố có lợi thế.

2. Xuất khẩu

Dự báo tốc độ tăng trưởng xuất khẩu giai đoạn 2006-2010 khoảng 15%/năm (không kể dầu thô). Tốc độ tăng trưởng này cao hơn tốc độ tăng trưởng xuất khẩu giai đoạn 2001-2005. Tổng kim ngạch xuất khẩu Thành phố, không kể dầu thô, năm 2010 ước đạt là khoảng 13 tỉ USD. Cơ sở dự báo tốc độ tăng trưởng xuất khẩu cao hơn là do việc nước ta sớm gia nhập WTO sẽ mở ra nhiều cơ hội thị trường và kinh tế thế giới tiếp tục tăng trưởng khá cao.

3. Vốn đầu tư

Để đạt tốc độ tăng trưởng cao hơn, trong giai đoạn 2006-2010 kinh tế Thành phố cần phải đầu tư nhiều hơn. Dự báo hệ số ICOR cũng sẽ tăng lên, do nhu cầu điều chỉnh cơ cấu kinh tế, tăng đầu tư cho các ngành kinh tế kỹ thuật hiện đại và do nhu cầu đầu tư vào các dự án hạ tầng kỹ thuật đô thị ngày càng cần vốn nhiều hơn, thời gian hoàn vốn lâu hơn, độ trễ của đầu tư sẽ cao hơn, do đó ICOR sẽ tăng. Hệ số ICOR dự kiến cho toàn giai đoạn là 3,1. Dự kiến nhu cầu vốn đầu tư phát triển Thành phố giai đoạn 2006-2010 là như sau:

 

Tỉ lệ đầu tư/GDP

Tỉ đồng (giá 2005)

Tỉ USD

Dự kiến chỉ tiêu

37,2%

434.500

27,2

Với hệ số ICOR 3,1, để đạt được tốc độ tăng trưởng GDP là 12% thì tỉ lệ đầu tư trên GDP là 37,2%. Dự kiến tổng vốn đầu tư cho giai đoạn 2006-2010 là 27,2 tỉ USD, tính theo trung bình năm là 5,45 tỉ USD. Dự kiến cơ cấu nguồn vốn đầu tư là như sau:

 

Cơ cấu

Tổng số

Bình quân

tỉ USD, 2006-2010

tỉ USD/năm

Vốn ngân sách

15%

4.1

0.8

DNNN(*)

15%

4.1

0.8

Tư nhân

47%

12.8

2.6

FDI và ODA

23%

6.3

1.3

(*) Ghi chú: DNNN bao gồm cả công ty TNHH một thành viên và công ty cổ phần có 50% vốn Nhà nước trở lên.

Theo cơ cấu trên, tỉ lệ đầu tư từ ngân sách sẽ bằng so với giai đoạn trước, chiếm khoảng 15% trên tổng đầu tư trên địa bàn. Đầu tư từ ngân sách Thành phố tiếp tục tăng lên là do Thành phố được TW phân cấp nhiều hơn về ngân sách và việc khai thác các nguồn vốn khác từ đất, phát hành trái phiếu,… Dự kiến tỉ lệ đầu tư từ doanh nghiệp Nhà nước sẽ giảm xuống (những năm gần đây khoảng 18% trên tổng đầu tư) còn khoảng 15% trên tổng đầu tư. Lý do giảm là do quá trình sắp xếp lại doanh nghiệp Nhà nước như cổ phần hóa, bán và do tỉ suất lợi nhuận thấp của khu vực này. Dự kiến tỉ lệ đầu tư từ khu vực kinh tế tư nhân và đầu tư của dân cư sẽ tăng lên (những năm gần đây khoảng 44%-45% trên tổng đầu tư), ước khoảng 47%. Đầu tư của các doanh nghiệp dân doanh tăng lên là do sự thông thoáng của Luật doanh nghiệp nói riêng và môi trường kinh doanh được cải thiện nói chung. Đầu tư của dân cư sẽ tăng lên đáng kể, nhất là nhu cầu đầu tư xây dựng nhà ở. Sau cùng, tỉ lệ đầu tư của khu vực đầu tư nước ngoài và vốn ODA sẽ cao hơn giai đoạn trước, dự kiến là 23% do tình hình đầu tư nước ngoài bước đầu có dấu hiệu cải thiện, các dự án ODA lớn Thành phố triển khai thực hiện trong giai đoạn này. Với cơ cấu trên, thì đầu tư hàng năm là như sau: vốn ngân sách 0,8 tỉ USD, DNNN 0,8 tỉ USD, tư nhân 2,6 tỉ USD, FDI và ODA là 1,3 tỉ USD.

Dự kiến tốc độ tăng đầu tư hàng năm là hơn 15% (đã loại trừ trượt giá).

4. Thu chi ngân sách

Trên cơ sở dự kiến tốc độ tăng trưởng GDP bình quân là 12%, với các chính sách thuế không thay đổi, dự kiến thu-chi ngân sách giai đoạn 2006-2010 như sau:

-                                 Tổng thu ngân sách nhà nước trên địa bàn tăng 62,89% so giai đoạn 2001 – 2005. Trong đó:

   + Thu nội địa tăng 88,34% (220.341 tỷ đồng/116.989 tỷ đồng) so giai đoạn 2001-2005.

   + Thu từ hoạt động xuất nhập khẩu tăng 48,52% (128.032 tỷ đồng/86.205 tỷ đồng) so giai đoạn 2001-2005.

- Tổng thu ngân sách địa phương: tăng 35,76%  (92.246 tỷ đồng/67.947 tỷ đồng) so giai đoạn 2001-2005. Trong đó, thu điều tiết từ thu nội địa chiếm tỷ trọng 89% tổng thu ngân sách địa phương.

- Tổng chi ngân sách địa phương tăng 44,29%  (92.246 tỷ đồng/63.928 tỷ đồng) so giai đoạn 2001-2005 . Trong đó:

   + Chi đầu tư phát triển: tăng 35,85%  (46.613 tỷ đồng/34.310 tỷ đồng) so giai đoạn 2001-2005, chiếm tỷ trọng 50,53% trong tổng chi ngân sách (cả nước từ 29-30%), để đạt được mức chi theo dự kiến, hàng năm, Thành phố phải tiếp tục thực hiện các biện pháp để tăng nguồn thu, thu từ đấu giá quyền sử dụng đất, huy động nguồn thu khác bổ sung cho ngân sách.

   + Chi thường xuyên: tăng 74,31%  (35.500 tỷ đồng/20.366 tỷ đồng) so giai đoạn 2001-2005, chiếm tỷ trọng 38,48% trong tổng chi ngân sách Trong đó, chi sự nghiệp giáo dục đào tạo chiếm tỷ trọng khoảng 24% trong tổng chi thường xuyên, sự nghiệp khoa học công nghệ chiếm tỷ trọng 2% trong tổng chi.  

Ngoài ra, Thành phố cũng bố trí dự phòng ngân sách, bổ sung quỹ Dự trữ tài chính thành phố, dành nguồn chi trả vốn gốc và lãi vay do huy động để chi đầu tư phát triển theo qui định của Luật Ngân sách nhà nước.

 

Nguồn Viện Kinh tế TP.HCM

(433 Lượt xem)

CÁC TIN BÀI KHÁC:
Ngôn ngữ Ngôn ngữ
English (United States) Tiếng Việt (Việt Nam)
Hoạt động nghiên cứu khoa học Hoạt động nghiên cứu khoa học
Tin hoạt động khoa học tháng 10 năm 2019 (4/11/2019)

Tin hoạt động nghiên cứu khoa học tháng 9 năm 2019 (16/10/2019)

Hội thảo khoa học "Tác động của Cách mạng công nghiệp lần thứ 4 và Kinh tế số đến nguồn nhân lực, cách thức vận hành và chuyển dịch cơ cấu kinh tế của Thành phố" (10/9/2019)


Số lượt truy cập Số lượt truy cập
20337958