KINH TẾ VĨ MÔ - KINH TẾ NGÀNH KINH TẾ VĨ MÔ - KINH TẾ NGÀNH
Chuyển dịch cơ cấu vùng kinh tế thời kỳ đổi mới (phần 2)

Thành tựu phát triển và chuyển dịch cơ cấu ngành này đạt được do các vùng đã phát huy được tiềm năng và lợi thế so sánh. Cơ cấu kinh tế của các vùng đã có sự thay đổi rất đáng kể, trong số này có các điều kiện cơ sở hạ tầng nông thôn của các vùng trong nước. Đó là cơ sở cần thiết cho phát triển kinh tế, nhất là với đất nước trải qua chiến tranh kéo đài. Số liệu điều tra 2001 như sau

Bảng 5: Cơ sở hạ tầng kinh tế -xã hội

 

Tỷ lệ % xã có điện (lưới/khác)

Tỷ lệ % xã có đường ô tô đến xã

Tỷ lệ % xã có trường tiểu học

Tỷ lệ % xã có trạm y tế xã

Cả nước

Tây Bắc

Đông Bắc

ĐBSH

Bắc Trung Bộ

DH Nam Trung Bộ

Tây Nguyên

Đông Nam Bộ

ĐBSCL

89,4

59,8

84,0

99,8

91,2

85,9

72,4

96,9

98,3

94,6

89,2

97,0

99,9

96,4

93,9

97,2

99,4

79,9

98,9

96,6

98,2

99,9

99,4

97,4

96,9

100,0

99,8

99,0

100,0

99,9

99,9

97,9

97,1

96,9

98,7

99,3

Nguồn: Số liệu điều tra năm 2001-2002 của Tổng cục Thống kê

Trong nước đã hình thành ba vùng kinh tế trọng điểm có tốc độ phát triển vượt trước ở Bắc, Trung, Nam. Nhờ đó, tạo sức lan tỏa ra các vùng kinh tế khác trong nước. Kết quả là cơ sở vật chất kỹ thuật các vùng đã có sự cải thiện đáng kể. Từ đó dẫn tới sự cải thiện đáng kể đời sống vật chất và tinh thần của người dân.

Tuy nhiên, cơ cấu kinh tế theo vùng đang có sự chuyển dịch bất lợi nhất định, cho các vùng khó khăn, cần có thời gian dài mới khắc phục được. Vì vậy, trong khoảng thời gian này, cũng cần có nhận thức, chính sách nhất quán để xử lý những vấn đề mất cân đối phát sinh. Trong thực tế, Đông Nam Bộ vẫn là vùng phát triển năng động nhất cả nước, trong khi các vùng khác, nhất là vùng núi vẫn còn nhiều khó khăn. Khoảng cách phát triển và đời sống vẫn còn lớn giữa các vùng và trong nội bộ từng vùng. Dự kiến xu thế này còn diễn ra trong một khoảng thời gian không ngắn.

Bảng 6: Cơ cấu kinh tế (phương án trung bình)

Vùng

2002

2005 (dự báo)

Toàn vùng (tỷ VNĐ, giá 1994)

Tỷ trọng (%)

Vùng núi trung du Bắc Bộ (%)

Vùng ĐBSH (%)

VùngDuyên hải Trung Bộ (%)

Vùng Tây Nguyên (%)

Vùng Đông Nam Bộ (%)

Vùng ĐBSCL (%)

Riêng ba vùng trọng điểm (%)

392491

100,0

6,23

23,32

14,65

4,04

32,70

19,06

58,46

582058

100,0

5,54

23,45

13,73

3,57

35,06

18,65

63,16

Nguồn: Viện Chiến lược phát triển, 2004

Theo thống kê, GDP bình quân đầu người năm 2000 khá chênh lệch giữa các tỉnh thành:

Bảng 7: GDP bình quân đầu người các địa phương

Địa phương

GDP bình quân (nghìn đồng, giá hiện hành)

Khoảng cách so với tỉnh Hà Giang (lần)

Năm tỉnh, thành phố giàu nhất

Bà Rịa – Vũng Tàu

Thành phố Hồ Chí Minh

Hà Nội

Bình Dương

Đà Nẵng

Năm tỉnh nghèo nhất

Lào Cai

Sơn La

Lai Châu

Bắc Cạn

Hà Giang

 

50.710,3

14.516,0

11.504,4

8.224,2

7.031,8

 

2.334,2

2.028,3

1.992,9

1.753,3

1.721,2

 

29,46

8,43

6,68

4,78

4,09

 

1,36

1,18

1,16

1,02

1,00

Nhờ chính sách điều tiết tết nên tuy GDP bình quân đầu người có chênh lệch lớn, nhưng mức sống thì chênh lệch ít hơn. Số hộ nghèo của các tỉnh này tuy vẫn chênh lệch lớn do các điều kiện ban đầu và những lợi thế cạnh tranh rất khác nhau:

Bảng 8: Tỷ lệ hộ nghèo tại các tỉnh năm 2002 

Năm tỉnh, thành phố giàu nhất (%)

Năm tỉnh nghèo nhất (%)

Tp. Hồ Chí Minh

Đà Nẳng

Hà Nội

Bà Rịa – Vũng Tàu

Bình Dương

1,8

3,5

5,0

6,9

8,4

Lai Châu

Hà Giang

Bắc Cạn

Sơn La

Lào Cai

76,6

70,5

68,8

63,9

59,4

 

 

 

 

Nhưng chênh lệch giàu nghèo của các vùng đều đang giảm đi nhanh chóng (tính theo phần trăm hộ nghèo theo tiêu chuẩn quốc tế) Cũng có thể kể ra những chuyển biến về đời sống của nhân dân qua các thời kỳ có kiểm kê.

Nhận xét chung là dù tính theo tiêu chuẩn nào thì những chuyển dịch cơ cấu vùng cũng là tích cực, sự phân hóa giàu nghèo đã được kiềm chế trong mức độ bảo đảm động lực phát triển, nhưng không doãng ra quá lớn giữa giàu và nghèo. Hiện nay 20% hộ nghèo đang thụ hưởng 8% thu nhập cả nước là mức khá so với tlnh hình chung ở nhiều nước. Chỉ số GINI tiếp tục được khống chế dưới mức 0,4 là một thành quả rất đáng khích lệ. Tuy nhiên, những nhân tố chưa vững chắc trong sự chuyển biến, tình trạng tái nghèo ở nhiều hộ sau khi thoát nghèo cũng là vấn đề cần được xử lý nghiêm túc.

Bảng 9: Tỷ lệ hộ nghèo của các vùng

 

1993 (%)

1998 (%)

2002 (%)

Cả nước

Thành thị

Nông thôn

Vùng núi phía Bắc

ĐBSH

Bắc Trung Bộ

Duyên hải Nam Trung Bộ

Tây Nguyên

Đông Nam Bộ

ĐBSCL

58

25

66

81,5

62,7

74,5

47,2

70,0

37,0

47,1

37

9

45

64,2

29,3

48,1

34,5

52,4

12,2

36,9

29

6

35

43,9

22,4

43,9

25,2

51,8

10,6

23,4

Nguồn: Báo cáo tiến độ thực hiện các MDG 2003, tr 1-2, UNDP, 2003

 

 

PGS. TSKH Nguyễn Quang Thái

Hội Khoa học Kinh tế Việt Nam

Biên tập và tổng hợp từ nguồn "Nghiên cứu kinh tế số 313 – Tháng 6/2004”

(832 Lượt xem)

CÁC TIN BÀI KHÁC:
Ngôn ngữ Ngôn ngữ
English (United States) Tiếng Việt (Việt Nam)
Hoạt động nghiên cứu khoa học Hoạt động nghiên cứu khoa học
Tin hoạt động nghiên cứu khoa học tháng 9 năm 2019 (16/10/2019)

Hội thảo khoa học "Tác động của Cách mạng công nghiệp lần thứ 4 và Kinh tế số đến nguồn nhân lực, cách thức vận hành và chuyển dịch cơ cấu kinh tế của Thành phố" (10/9/2019)

Tin hoạt động khoa học tháng 8 năm 2019 (4/9/2019)


Số lượt truy cập Số lượt truy cập
20213952