KINH TẾ VĨ MÔ - KINH TẾ NGÀNH KINH TẾ VĨ MÔ - KINH TẾ NGÀNH
Chuyển dịch cơ cấu kinh tế và các sản phẩm chủ lực vùng KTTĐPN

Cơ cấu kinh tế vùng KTTÐPN tiếp tục có sự chuyển biến cơ cấu kinh tế theo hướng phát triển mạnh các ngành có kỹ thuật, công nghệ cao, các công nghiệp và dịch vụ kỹ thuật cao phải chiếm tỷ trọng lớn trong cơ cấu kinh tế của vùng.

Trong công nghiệp có sự chuyển biến mạnh mẽ theo hướng tăng tỷ trọng của các công nghiệp chế tác, công nghiệp kỹ thuật cao. Tiếp tục đẩy mạnh khai thác dầu khí, công nghiệp năng lượng, phân bón, hóa chất từ dầu khí; phát triển công nghiệp kỹ thuật hiện đại; phát triển mạnh công nghiệp ở các tỉnh, tránh tập trung quá mức công nghiệp vào các đô thị lớn. Khuyến khích đầu tư vào 32 khu công nghiệp và khu chế xuất được cấp giấy phép; xây dựng khu công nghệ cao ở TP. Hồ Chí Minh; tập trung đầu tư hoàn chỉnh hệ thống hạ tầng ngoài hàng rào để đưa các khu công nghiệp vào hoạt động có hiệu quả. Dự kiến giá trị sản xuất công nghiệp tăng 14 - 15%/năm. Trong đó các ngành điện, điện tử phải tăng trên 20%, cơ khí, hóa chất tăng 16 - 17%. Tỷ trọng ngành điện, điện tử trong tổng giá trị sản xuất công nghiệp phải tăng từ 5% năm 2000 lên 7% năm 2005 và 8 - 9% năm 2010. Ðến năm 2010 tỷ trọng ngành cơ khí cũng phải chiếm trên 10%.

Quy hoạch và bố trí dân cư đảm bảo phát triển vùng một cách bền vững tiến tới một vùng có tổ chức không gian hiện đại. Tổng quy mô dân số các đô thị mới khoảng 700 nghìn đến 1 triệu người. Phát triển các đô thị mới ở Phú Mỹ, Long Sơn, Long Hải (bà Rịa-Vũng Tàu), Dĩ An - Tân Uyên (Bình Dương), Tam Phước, Nhơn Trạch (Ðồng Nai).

Giải quyết cơ bản vấn đề nhà ở, nâng cao điều kiện sống của dân cư đô thị, đảm bảo trật tự và vệ sinh đô thị. Xây mới khoảng 60.000 - 80.000 căn hộ ở TP. Hồ Chí Minh và các đô thị khác.

Trong hoạt động dịch vụ, chú ý phát triển các loại dịch vụ phát huy lợi thế của vùng:

Thành phố Hồ Chí Minh

Thành phố Hồ Chí Minh đã từ lâu được biết đến như một trung tâm buôn bán lớn của cả nước. Ngay từ khi mới hình thành, hơn 300 năm về trước, nơi đây đã là miền đất hội tụ của nhiều cửa ngõ, thuận tiện cho cảnh “trên bến dưới thuyền” buôn bán tấp nập. Sau này, những khách buôn Trung Quốc, Nhật Bản, Ấn Độ, phương Tây cũng thường xuyên cập bến sông Sài Gòn để trao đổi hàng hóa.

Từ những năm 1960, Sài Gòn đã trở thành trung tâm thương mại, là thị trường tiêu thụ, tiếp nhận, phân phối hàng hóa, hàng viện trợ lớn nhất miền Nam và gắn chặt với thị trường các nước Đông Nam Á, cũng như với các nước phát triển như Mỹ, Pháp, Nhật…

Từ sau ngày giải phóng, hoạt động thương mại trên địa bàn thành phố Hồ Chí Minh tiếp tục mở rộng và phát triển với tốc độ nhanh, đặc biệt là khi chính sách đổi mới, mở cửa nền kinh tế được thực hiện. Thành phố Hồ Chí Minh không những chỉ là thị trường tiêu thụ lớn các loại hàng hóa nộng sản, hải sản phục vụ đời sống sinh hoạt hằng ngày của người dân và nhu cầu của các ngành công nghiệp chế biến mà còn là nơi cung cấp hầu hết khối lượng háng công nghệ phẩm, vật tư, thiết bị sản xuất cho các tỉnh miền Đông Nam bộ, miền Nam Trung bộ, các tỉnh đồng bằng sông Cửu Long. Ngoài ra với sự mở rộng giao lưu thương mại qua các bến cảng, cửa khẩu của thành phố Hồ Chí Minh, nhiều loại hàng hóa đã đươc xuất đi nhiều nước trên thế giới.

Về nội thương, thành phố Hồ Chí Minh đóng vai trò là đầu mối giao thương hàng hóa quan trọng cho khu vực miền Trung và miền Nam, từ Đà Nẵng trở vào tới Cà Mau. Về ngoại thương, thành phố Hồ Chí Minh đã thiết lập quan hệ thương mại với hơn 100 quốc gia và vùng lãnh thổ ở hầu hết các châu lục. Trên địa bàn thành phố hiện có 1.710 văn phòng đại diện nước ngoài từ 51 nước và vùng lãnh thổ đang hoạt động. Trong đó số văn phòng đại diện hoạt động trong lãnh vực thương mại chiếm khoảng 60%. Đây cũng là một lợi thế rất lớn cho TP.HCM trong việc xúc tiến thương mại, mở rộng thị trường, đẩy mạnh xuất khẩu.

Về du lịch, nhờ có cơ sở vật chất đầy đủ tiện nghi của hệ thống khách sạn - nhà hàng, khu vui chơi giải trí nên TP.HCM là trung tâm tiếp nhận một lượng lớn du khách từ phương xa đến tham quan, nghỉ mát, kinh doanh… Đối với những tuyến du lịch trong nước, thành phố Hồ Chí Minh là nơi trung chuyển khách du lịch trước khi đến các điểm du lịch lý thú như Nha Trang, Đà Nẵng, Huế, Đà Lạt, Buôn Mê Thuột… và những tour du lịch sinh thái về mượt vườn trù phú của các tỉnh lân cận như Bình Dương, Đồng Nai, các tỉnh đồng bằng sông Cửu Long. Đối với những tuyến du lịch ngoài nước, do có vị trí thuận lợi nằm gần các trung tâm du lịch lớn của khu vực, nên thành phố Hồ Chí Minh có nhiều lợi thế trong việc kết nối tour với các nước láng giềng để hình thành những chương trình du lịch hấp dẫn. Bên cạnh đó, thành phố còn có cảng biển để đón tàu du lịch lớn, có hệ thống đường sông nối liền các tỉnh và sang tận Campuchia, có tuyến đường sắt nối liền với các tỉnh miền Trung, miền Bắc và Trung Quốc…

Tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu

Bà Rịa - Vũng Tàu có thế mạnh về biển, rừng, núi… để phát triển du lịch. Bờ biển của tỉnh dài 156 km trong đó có 70 km bãi cát thoải, nước trong xanh nên dọc theo 70 km đường biển này đã hình thành nhiều bãi tắm đẹp có thể sử dụng quanh năm. Tỉnh có trên 50 ngọn núi cao trên 100 m, nhô ra biển tạo thành vũng, vịnh, mũi, bán đảo, đảo với nhiều cảnh quan đẹp. Rừng của tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu có khoảng 700 loài thực vật gỗ và thân thảo, 200 loài động vật, 2 khu rừng nguyên sinh ở Bình Châu - Xuyên Mộc và huyện Côn Đảo có nhiều loại gỗ và động vật quý hiếm, có ý nghĩa cho nghiên cứu khoa học và phục vụ phát triển du lịch. Trên địa bàn tỉnh còn có trên 200 con suối, đặc biệt có suối nước nóng khoáng chất Bình Châu (80oC) là một tài nguyên quý phục vụ cho nhu cầu chữa bệnh rất tốt.

Ngoài ra bờ biển tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu còn có mỏ dầu với trữ lượng từ 1,5 - 3 tỷ tấn và 3.000 tỷ m3 khí, có sản lượng hải sản lớn nhất nước, thuận lợi cho phát triển các nghề đánh bắt và chế biển hải sản phục vụ xuất khẩu ra thị trường nước ngoài. Tỉnh còn có lợi thế về xây dựng các cảng nước sâu như khu vực Sao Mai - Bến Đình đủ điều kiện xây dựng cảng quốc tế container cho tàu trọng tải 100.000 tấn ra vào thuận lợi, trên sông Thị Vải có khả năng xây dựng chùm cảng nước sâu cho tàu trọng tải 50.000 - 60.000 tấn ra vào mà không cần nạo vét luồng lạch.

Tỉnh Đồng Nai

Đồng Nai có những điểm du lịch đa dạng, hấp dẫn như: vùng rừng nguyên sinh Nam Cát Tiên với diện tích trên 35.000 ha bao gồm một quần thể động vật, thực vật đa dạng, phong phú, có nhiều động vật quý hiếm (voi, bò rừng, trâu nước, tê giác…); mộ cổ Hàng Gòn là khu di tích lịch sử; khu du lịch Bủu Long có hồ Long Ẩn với diện tích trên 10 ha bao gồm nhiều cảnh vật nhân tạo được bố trí hài hòa và kỳ thú cùng với núi thấp Bửu Long và chùa Long Phượng; khu du lịch ven sông Đồng Nai với chiều dài trên 200 km. Tất cả các điểm du lịch trên đã tạo lợi thế cho tỉnh Đồng Nai phát triển du lịch, thu hút du khách đến tham quan, nghỉ mát…

Tỉnh Bình Dương

Trên địa bàn tỉnh Bình Dương đã hình thành một quần thể thực vật phong phú và đa dạng, đặc biệt là những vườn cây ăn trái xum xuê để tạo nên các tuyến du lịch dọc sông Sài Gòn nối tiếp dọc sông Đồng Nai bắt đầu từ vườn cây ăn trái Lái Thiêu nổi tiếng kéo dài lên thị xã Thủ Dầu Một đến tận vùng lòng hồ Dầu Tiếng… Ngoài ra tại đây còn có các tuyến thăm lại chiến trường xưa, tới những địa danh đã đi vào lịch sử như chiến khu Đ, địa đạo “Tam giác Sắt” ở 3 làng (An Điền, An Tây, Phú An), Phú Lợi, Bầu Bàng, Bến Súc, Lai Khê, Nhà Đỏ… Cũng như tỉnh Đồng Nai, tất cả các điểm du lịch trên đã tạo lợi thế cho tỉnh Bình Duơng phát triển du lịch, thu hút du khách đến tham quan, nghỉ mát…

Phát huy thế mạnh đất đai để tạo sự chuyển biến mạnh về cơ cấu cây trồng trong nông nghiệp vùng theo hướng ưu tiên phát triển nhóm ngành hàng nông sản hàng hóa nguyên liệu cho sản xuất công nghiệp. Củng cố các điểm dân cư gắn với các vùng chuyên canh tập trung lớn, tạo điều kiện thu hút thêm lao động từ Ðồng Bằng Sông Cửu Long.

Phát triển lâm nghiệp, phủ xanh đất trống đồi núi trọc (tập trung ở Bà Rịa-Vũng Tàu, Ðồng Nai); tăng nhanh việc trồng và sớm ổn định trừng phòng hộ ven biển, đặc biệt giữ diện tích rừng ngập mặn của huyện Cần Giờ (TP.HCM) và ven biển của Bà Rịa-Vũng Tàu, chú trọng rừng nguyên liệu giấy, rừng quốc gia và rừng đầu nguồn Trị An. Hoạt động lâm nghiệp trên địa bàn chủ yếu hướng vào việc khaonh nuôi và bảo vệ rừng, đặc biệt là rừng phòng hộ.

Phát triển khai thác, nuôi trồng, chế biến và các dịch vụ nghề cá. Tuy nhiên có thể nói, nuôi trồng thủy sản không phải là thế mạnh của vùng, phấn đấu sản lượng thủy sản đạt mức xấp xỉ 40 ngàn tấn.

Các sản phẩm chủ lực

Dầu khí: tiếp tục đầu tư vào công tác thăm dò tìm kiếm nhằm sớm phát hiện và đưa vào khai thác những mỏ dầu mới, tiến hành khai thác thêm một số mỏ (ngoại trừ mỏ dầu bạch hổ đang giảm dần sản lượng khai thác) đảm bảo sản lượng dầu khai thác ở mức 16 triệu tấn năm, xuất khẩu khoảng 12 triệu tấn. Tiếp tục đầu tư, xúc tiến hoàn thành dự án khí Nam Côn Sơn, đảm bảo đưa khí vào bờ đạt khoảng 4 - 4,5 tỷ m3 vào năm 2005.

Năng lượng điện: hoàn thành và đầu tư mới một số công trình tuốc bin khí tại khu vực Phú Mỹ và đưa vào vận hành. Phấn đấu đưa sản lượng điện dự kiến khoảng 20 - 24 tỷ kwh vào năm 2005.

Công nghiệp nhẹ (dệt, may, da giày): xúc tiến mở rộng tiêu thụ sản phẩm, chuyển đồi từ phương thức gia công trong sản xuất hàng công nghiệp nhẹ (dệt, may, da giày) với thương hiệu Việt Nam, sử dụng nguyên liệu sản xuất trong nước hoặc nhấp khẩu nhằm tăng giá trị gia tăng. Ðưa sản lượng vải thành phẩm lên trên 350 triệu m, quần áo may sẵn trên 300 triệu sản phẩm, giày - dép các loại lên 150 triệu đôi vào năm 2005.

Hóa chất: tìm giải pháp xúc tiến hình thành các cơ sở công nghiệp hóa dầu và hóa chất phân bón sử dụng khí thiên nhiên, tăng hiệu quả của ngành công nghiệp chủ lực này trên vùng.

Cơ khí điện tử: mở rộng thị trường đ63 phát triển các ngành hàng khác như cơ khí điện tử.

Công nghệ cao và phần mềm: xúc tiến đầu tư khu công nghiệp công nghệ cao và sản xuất phầm mềm ở TP. Hồ Chí Minh. Phấn đấu đưa giá trị sản xuất phần mềm lên khoảng 1.800 tỷ đồng vào năm 2005 (tương đương khoảng 150 - 160 triệu USD).

 

Trích Báo cáo sơ khởi: CHUYỂN DỊCH CƠ CẤU NỘI BỘ CÁC NGÀNH KINH TẾ TRÊN ĐỊA BÀN VÙNG KINH TẾ TRỌNG ĐIỂM PHÍA NAM (Đề tài đang nghiên cứu của Viện Kinh tế TP.HCM)

 

(375 Lượt xem)

CÁC TIN BÀI KHÁC:
Ngôn ngữ Ngôn ngữ
English (United States) Tiếng Việt (Việt Nam)
Hoạt động nghiên cứu khoa học Hoạt động nghiên cứu khoa học
Tin hoạt động khoa học tháng 03 năm 2019 (8/4/2019)

Tin hoạt động khoa học tháng 02 năm 2019 (11/3/2019)

Tin hoạt động khoa học tháng 01 năm 2019 (21/2/2019)


Số lượt truy cập Số lượt truy cập
19623991