KINH TẾ VĨ MÔ - KINH TẾ NGÀNH KINH TẾ VĨ MÔ - KINH TẾ NGÀNH
Một số tồn tại của sự quản lý phát triển vùng KTTÐPN

a. Vấn đề nổi cộm nhất trong thời gian vừa qua của vùng là thiếu một cơ chế quản lý để điều phối sự phát triển của vùng không bị ràng buộc và bị chia cắt theo địa giới hành chính. Nhiều quy hoạch chi tiết chưa tuân thủ quy trình để đảm bảo sự ăn khớp với quy hoạch chung của vùng, thiếu sự phối hợp chặt chẽ giữa các Bộ quản lý, các Ngành và các địa phương trong vùng. Các kế hoạch phát triển kinh tế không bám sát và phản ánh được các nội dung quy hoạch đã được Nhà nước phê duyệt. Nguyên nhân sâu xa của tình hình có thể có nhiều nhưng trước hết là do còn có những vướng mắc trong quan điểm và tư tưởng về vai trò và bước đi của vùng kinh tế trọng điểm. Vẫn còn đâu đó ảnh hưởng của chủ nghĩa bình quân, thiếu sự tập trung các nỗ lực từ trên xuống dưới và sự phối hợp giữa các địa phương trong vùng.

Các Nghị quyết và Chủ trương để phát triển vùng chậm được triển khai, gặp khó khăn do bị chia cắt theo địa giới hành chính, mà chưa phát huy hết lợi thế của vùng KTTÐPN như một không gian kinh tế thống nhất. Những định hướng và mục tiêu của vùng đề ra trong quy hoạch tổng thể chưa được tập trung chỉ đạo thống nhất, thiếu sự phân công phối hợp và xử lý tổng hợp trên quy mô toàn vùng. Mục tiêu và định hướng phát triển các tỉnh trong vùng tương tự nhau, chưa thấy rõ sự phân công theo chức năng và lợi thế so sánh của từng tỉnh.

Cũng đã đến lúc phải có Bộ luật về kế hoạch hóa (như nhiều nước đang phát triển kinh tế thị trường) để xác định khuôn khổ pháp luật với những định chế và chế tài cần thiết liên quan đến quyền hạn, trách nhiệm và trình tự pháp lý của việc lập kế hoạch, thực thi, giám sát và điều chỉnh kế hoạch ở các cấp quản lý từ TW đến vùng và các địa phương.

Trước mắt, cần thực hiện Chỉ thị 32 của Thủ tướng Chính phủ về việc rà soát lại quy hoạch vùng kinh tế trọng điểm phía Nam để phát hiện những khía cạnh sau đây:

- Sự lạc hậu với tình hình thực tế nằm ngay trong bản thân quy hoạch tổng thể và do đó cần phải rà soát lại những chỗ lạc hậu ấy nằm ở các khâu nào, đặc biệt là sự lạc hậu về tầm nhìn hội nhập kinh tế quốc tế trong điều kiện mới của toàn cầu hóa và nền kinh tế tri thức.

- Quy hoạch tổng thể đã chưa kết hợp được các mục tiêu ở cấp quốc gia với các mục tiêu ở cấp vùng và cấp địa phương, do đó nó không đủ sức thuyết phục các địa phương có hành động phối hợp theo hướng đi thống nhất.

- Các công cụ kinh tế bảo đảm quản lý sự phát triển vùng chưa được hình thành hoặc không đủ hiệu lực (đặc biệt là các công cụ kinh tế như tài chính, ngân hàng, phân phối và quản lý các dự án v.v...), do đó tập quán quản lý hành chính vẫn còn tác động, chi phối đến các quan hệ giữa TW với địa phương, giữa các địa phương với nhau.

Cần phải khảo nghiệm các giả thuyết trên đây trước khi nghĩ đến một cơ chế quản lý mới.

Tồn tại trên có liên quan đến những quan điểm lý luận và phương pháp luận nghiên cứu phát triển vùng ở nước ta trong giai đoạn chuyển từ kinh tế tập trung - bao cấp sang kinh tế thị trường theo định hướng xã hội chủ nghĩa.

Ở các nước tư bản chủ nghĩa cũng như ở các nước xã hội chủ nghĩa trước đây đều thực hiện việc phân vùng kinh tế và nghiên cứu phát triển vùng, nhưng đi theo hướng lý thuyết căn bản khác nhau.

Việc phân vùng và kế hoạch hóa vùng ở các nước xã hội chủ nghĩa dựa trên quan điểm "Phân công lao động theo lãnh thổ". Các nhiệm vụ sản xuất và dịch vụ theo một kế hoạch căn bản mang tính pháp lệnh do Nhà nước TW đề ra để các vùng và các địa phương thực hiện. Hoạt động kinh tế của các vùng tuy cũng dựa vào lợi thế so sánh về điều kiện tự nhiên (như tài nguyên) và điều kiện kỹ thuật (như các ngành nghề truyền thống), nhưng tất cả đều được quy chiếu vào nguyên tắc bao cấp từ đầu vào đến đầu ra. Yếu tố thị trường đóng vai trò rất thứ yếu, trong nhiều trường hợp hầu như không được chú ý.

Phân vùng kinh tế ở nước ta vừa qua được coi là phân vùng kinh tế tài nguyên. Lâu nay ta thường bỏ qua một câu hỏi đó là phân vùng một nền kinh tế là gì? Về trình độ phát triển, từ đầu thế kỷ XX là sự thống trị của sự phân phối tài nguyên; tương ứng với nó là lý thuyết kinh tế và thực tiễn của sự phân phối này. Về tính chất, đó là sự phân phối các nguồn tài nguyên hạn chế, về nguyên tắc đó là sự tiết kiệm, và về không gian đó là sự giới hạn lãnh thổ bởi vì mọi tài nguyên đều có một lãnh thổ tương ứng. Lãnh thổ này được xác định bởi các địa giới tự nhiên và hành chính - kinh tế. Người ta phân vùng, về thực chất là phân chia, sắp xếp nền kinh tế đất nước như cách chơi cờ trong một bàn cờ. Vấn đề chỉ là cách chơi theo một hay hơn một luật chơi, trong một sân chơi nhất định.

Nền kinh tế tài nguyên, xét về bản chất là sự tiết kiệm trong một cuộc chơi bị giới hạn về trong các nguồn lực và trong lãnh thổ. Và như vậy phân vùng kinh tế cũng chỉ là một hành động kinh tế có giới hạn.

Trong khi đó, việc phân vùng và kế hoạch hóa vùng ở các nền kinh tế tư bản lại chủ yếu dựa trên quan điểm "thị trường tự do" với quy luật cạnh tranh đóng vai trò nền tảng.           Cạnh tranh là tất yếu và cần thiết chẳng những giữa các doanh nghiệp trong sản xuất và kinh doanh mà còn giữa các địa phương trong vùng, giữa các vùng với nhau, giữa các quốc gia.... Chính vì sự cạnh tranh đó mà cần thiết phải có kế hoạch hóa. Nhưng kế hoạch này không mang tính pháp lệnh mà mang tính hướng dẫn, kế hoạch đó không được thực hiện bằng công cụ hành chính mà bằng các cônh cụ kinh tế, Nhà nước TW không bao cấp đầu vào và đầu ra cho các địa phương. Các vùng phải phát huy lợi thế của mình. Lợi thế so sánh này được quy chiếu theo quy luật cung cầu của thị trường, tức là theo khả năng cạnh tranh trên thị trường chứ không chỉ là những khả năng tiềm tàng thuần túy dựa vào điều kiện tự nhiên hay kỹ năng truyền thống.

Những nguyên tắc lý luận và phương pháp luận trên đây ảnh hưởng rất lớn đến công tác phân vùng và phát triển vùng. Ở Việt Nam, đã một thời kỳ chúng ta đi theo hệ quan điểm thứ nhất với tổ chức và hoạt động của ủy ban phân vùng kinh tế Trung ương là đầu mối của mọi nghiên cứu và quy hoạch vùng. Chỉ những năm gần đây, chúng ta mới chuyển sang nền kinh tế thị trường, và trong bước quá độ này, ảnh hưởng của các quan điểm tập trung, quan liêu, bao cấp vẫn còn đáng kể.

Việc xác định 3 vùng kinh tế trọng điểm trên cả nước có thể là một thử nghiệm đầu tiên áp dụng quy luật thị trường trong phân vùng và phát triển vùng. Trong đó, vùng KTTÐPN vốn trước đây đã có kinh tế thị trường mạnh nhất cả nước, nay được chú trọng nghiên cứu và quy hoạch để từ đó có thể rút ra những bài học kinh nghiệm cho việc phân vùng và nghiên cứu phát triển vùng ở nước ta.

Từ thực tế phát triển của vùng KTTÐPN, chúng ta đã thấy xuất hiện một số vấn đề lý luận và phương pháp luận cần được làm sáng tỏ để có cơ sở khoa học cho các quyết định về chính sách và cơ chế sau này. Vì dụ vài nội dung sau đây:

Khái niệm phát triển vùng sẽ là tiêu điểm của các phán đoán, đánh giá về hiện trạng và suy xét về chính sách. Khái niệm vùng kinh tế là thông dụng ở nhiều quốc gia. Nền kinh tế không tự nó vẽ một đường biên rõ ràng như đường biên của các đơn vị hành chính. Vì thế, tuy có gắn với lãnh thổ hành chính của các địa phương, vùng kinh tế chỉ nhắm vào các liên hệ kinh tế giữa các địa phương có thể tạo ra lực tương hỗ cho sự phát triển. Do đó, khái niệm phát triển vùng được đặt ra nhằm khai thác tối đa các tác động tương hỗ ấy. Hiện nay có nhiều ý kiến cho rằng chúng ta chưa có thực thể vùng, địa phương nào làm theo địa phương đó và làm theo sự chia cắt hành chính. Lý do có thể nằm ở tổng thể nền kinh tế và bộ máy quản lý Nhà nước của chúng ta chưa có sự tách bạch hành chính và kinh tế. Từ TW đến các địa phương, cơ cấu quyền lực hành chính với các tầng nấc của nó vẫn trùm lên đời sống kinh tế. Do đó, các tương tác kinh tế không tự nó hoạt động một cách tích cực được, không tự nó phát huy tác dụng được mà phải đia qua "rào cản" của hành chính mà ta quen gọi là cơ chế "xin cho".

Dù với bất cứ lý do nào thì khái niệm phát triển vùng, từ căn bản lý luận, đang cần có những giải pháp khoa học để có thể hướng dẫn những suy nghĩ và hành động của các cấp các ngành từ TW đến địa phương.

Trong những nền kinh tế thị trường, sự phát triển kinh tế ở bất cứ phạm vi nào, kể cả ở cấp vùng cũng đều phải dựa trên quy luật cạnh tranh. Chỉ có cạnh tranh mới phát hiện được lợi thế so sánh, mới phát huy được sáng kiến, mới loại trừ được sự trì trệ rất dễ là căn bệnh của bất cứ guồng máy hành chính nào.

Các địa phương, các cộng đồng cạnh tranh ít nhất vì hai lợi ích thiết thực cho họ. Một là, tăng thêm việc làm, giảm thất nghiệp do thu hút được nhiều nhà đầu tư. Hai là, tăng thêm được các nguồn thu từ thuế doanh thu của các doanh nghiệp nằm trên địa bàn của họ.

Ở nước ta, cụ thể là ở vùng KTTÐPN, thực tế cũng đã xuất hiện sự cạnh tranh đó của các địa phương. Các địa phương trước sau cũng đã làm việc "tiếp thị", tức là "khuyến mãi chính mình". Bà Rịa-Vũng Tàu đã nêu phương châm "đổi đất lấy hạ tầng", Bình Dương thì "trải thảm đỏ đón các nhà đầu tư", Ðồng Nai đã liên tục cải thiện quy trình cấp phép đầu tư và giảm giá cho thuê đất. Trong cạnh tranh tất nhiên có mặt tích cực và không ít tiêu cực, ví dụ sự "lạm phát" các khu công nghiệp.

Ở vùng KTTÐPN hiện nay, công tác kế hoạch hóa mới chỉ dừng lại ở các bản quy hoạch tổng thể vùng và các bản quy hoạch tổng thể của các địa phương. Nó mới chỉ dừng lại ở các Văn bản mà chưa có một thể chế hoạt động cụ thể về kế hoạch hóa như là một công cụ theo rõi, cập nhật, điều chỉnh, cung cấp thông tin và tư vấn cho các cấp, các địa phương, các doanh nghiệp trong sự tham gia của họ vào các nỗ lực phát triển vùng. Vai trò "hướng dẫn", "định hướng" của công tác kế hoạch đã bị triệt tiêu, đó là đầu mối gây ra những rối ren như đang xảy ra hiện nay.

Vùng kinh tế trọng điểm phải dựa trên các cực tăng trưởng là các đô thị lớn, vì thế phải có những đột phá trong tổ chức và quản lý đô thị. Hệ thống đô thị trong vùng xét theo tiêu chuẩn hiện đại là một trong những thước đo quan trọng của sự phát triển. Nó vừa là động lực vừa là kết quả của sự phát triển vùng.

Phải bằng quan điểm đó để nhìn lại trình độ phát triển và cung cách quản lý của các thành phố trong vùng, đặc biệt là tuyến đô thị từ TP. Hồ Chí Minh qua Biên Hòa đi Vũng Tàu. Mức độ tham gia của Thủ Dầu Một vào quá trình hình thành chùm đô thị vùng này cũng phải được xem xét.

Phải lưu ý thích đáng đến sự xuống cấp của các đô thị trong vùng, kể cả TP. Hồ Chí Minh, mặc dù mỗi nơi đều có ít nhiều cải thiện bằng một số công trình xây dựng mới. Phải chăng đã có sự xuống cấp nhiều mặt trong xây dựng, trong giao thông, trong môi trường, trong dịch vụ xã hội, trong tổ chức không gian đô thị, trong mô hình cư trú, trong an sinh xã hội nói chung. Sau hết đó là tình trạng quản lý đô thị hết sức lạc hậu với cơ chế và lề lối quan lý Nhà nước và quản lý xã hội chẳng khác gì quản lý một tỉnh nông thôn.

b. Trong tất cả các nghiên cứu trước đây mới chỉ đánh giá các động thái phát triển nội vùng mà chưa hề có sự phân tích tác động của vùng này với tư cách một vùng trọng điểm với các vùng lân cận, với phần còn lại của Ðông Nam Bộ, Tây Nguyên và nhất là với Ðồng Bằng Sông Cửu Long.

Ở đây cũng có thể có những lý do khách quan và chủ quan cần phân tích sâu sắc:

- Có thể do sự tăng trưởng của vùng chưa đủ mạnh để gây một hiệu quả rõ rệt tác động đến các vùng phụ cận ngoài một số ảnh hưởng tự phát như quá trình di dân từ các vùng nông thôn vào đô thị và khu công nghiệp.

- Cũng có thể là vai trò động lực chưa được thể hiện cụ thể trong quy hoạch và trong các giải pháp gắn kết với yêu cầu của các vùng khác, nhất là vai trò kích thích các nhân tố phát triển về tài nguyên và nhân lực ở các vùng ngoại vi.

- Vùng KTTÐPN đã có những ảnh hưởng tích cực nhưng do công tác thu thập, phân tích và tổng hợp các dữ liệu gặp khó khăn, không làm rõ được vai trò động lực đó trong thực tế.

Nếu như vậy, thì cuộc nghiên cứu lần này phải có sự quan tâm thích đáng đến việc phân tích và dự báo vai trò động lực của vùng được thể hiện cụ thể như thế nào?.

c. Trong tất cả các cuộc nghiên cứu trước đây, những vấn đề xã hội trong quá trình tăng trưởng kinh tế của vùng hầu như đã bị bỏ ngỏ. Ðây là những vấn đề có quan hệ mật thiết đến sự phát triển vững chắc của vùng, gắn tăng trưởng kinh tế với tiến bộ xã hội.

Trong số đó đã xuất hiện những vấn đề nổi cộm. Trước hết là vấn đề di dân tự do làm cho quy mô dân số của vùng chỉ trong thời gian 5 năm gần đây đã tăng hơn đến cả triệu người, gây áp lực lớn đến các điều kiện cống của đô thị như nhà ở, giáo dục, y tế, giao thông và các dịch vụ xã hội khác.

Quá trình đô thị hóa cũng không được kiểm soát chặt chẽ và thiếu những mô hình và giải pháp, dẫn đến nhiều hậu quả lâu dài trên tổ chức không gian đô thị và trên chất lượng sống của cộng đồng.

d. Nhiều vấn đề nêu trên đều có gắn với quy hoạch vùng và quy hoạch các địa phương. Có thể lấy lời phát biểu sau đây của Thủ tướng Chính phủ tại Quốc hội tháng 12/2002 để đánh giá về tầm quan trọng của quy hoạch và thiếu sót của công tác quy hoạch.

"Thực tế cho thấy rõ công tác quy hoạch có vai trò rất quan trọng, mở đường cho sự chuyển dịch cơ cấu kinh tế có hiệu quả, tránh tự phát vô tổ chức để lại hậu quả lâu dài. Ðó là công việc thuộc chức năng và trách nhiệm của Nhà nước.

Vừa qua chúng ta đã làm được nhiều quy hoạch ngành, vùng và các đô thị lớn. Nhưng chất lượng quy hoạch còn thấp, chưa bám sát nhu cầu và những biến đổi của thị trường và sự tiến bộ khoa học - công nghệ. Sự kết hợp giữa các quy hoạch địa phương và giữa ngành với lãnh thổ cũng chưa khớp, có những chỗ còn chồng chéo. Trung ương đã xây dựng và thông qua nhiều quy hoạch phát triển các ngành kinh tế (như điện, xi măng, sắt thép, giấy, dệt may, giao thông...) và các ngành văn hóa, giáo dục, khoa học, y tế... nhưng các địa phương chưa nắm được. Tính pháp chế của quy hoạch chưa rõ, chưa có đủ các Văn bản pháp quy về quản lý Nhà nước đối với quy hoạch (xác định nguyên tắc, nội dung, thẩm quyền xét duyệt, trách nhiệm thực hiện quy hoạch...); vì vậy, có quy hoạch rồi nhưng không làm theo đúng quy hoạch, thậm chí có hiện tượng lợi dụng quy hoạch để kiếm lợi riêng.... Ðó là những mặt yếu trong công tác quy hoạch mà thời gian tới phải khắc phục.

Trong năm tới, việc rà soát, bổ sung, nâng cao chất lượng quy hoạch phải tập trung đáp ứng mấy yêu cầu trước mắt về chuyển dịch cơ cấu kinh tế".

 

Trích Báo cáo sơ khởi: CHUYỂN DỊCH CƠ CẤU NỘI BỘ CÁC NGÀNH KINH TẾ TRÊN ĐỊA BÀN VÙNG KINH TẾ TRỌNG ĐIỂM PHÍA NAM (Đề tài đang nghiên cứu của Viện Kinh tế TP.HCM)

(1977 Lượt xem)

CÁC TIN BÀI KHÁC:
Ngôn ngữ Ngôn ngữ
English (United States) Tiếng Việt (Việt Nam)
Hoạt động nghiên cứu khoa học Hoạt động nghiên cứu khoa học
Tin hoạt động khoa học tháng 03 năm 2019 (8/4/2019)

Tin hoạt động khoa học tháng 02 năm 2019 (11/3/2019)

Tin hoạt động khoa học tháng 01 năm 2019 (21/2/2019)


Số lượt truy cập Số lượt truy cập
19603276