KINH TẾ VĨ MÔ - KINH TẾ NGÀNH KINH TẾ VĨ MÔ - KINH TẾ NGÀNH
Một số tồn tại trong phát triển Vùng Kinh tế trọng điểm phía Nam

Mấy năm gần đây, khu vực dịch vụ sau một thời gian tăng nhanh đã chững lại và tăng chậm hơn nhịp độ tăng trưởng chung của GDP vùng. Tỷ trọng khu vực dịch vụ có xu hướng giảm đáng quan tâm trên toàn vùng (1990 tỷ trọng này là 45,1%; 1995 là 44,4%; 2001 là 37,2%). Ðây là sự chuyển dịch cơ cấu không đúng hướng, làm giảm hiệu quả kinh tế - xã hội phát triển vùng, không phát huy hết tiềm năng và thế mạnh của vùng. Nếu xu thế này không được điều chỉnh kịp thời trên cơ sở có các chính sách ưu tiên đầu tư thúc đẩy phát triển mạnh thương mại, dịch vụ bảo hiểm, du lịch, dịch vụ tài chính ngân hàng, dịch vụ vận tải bưu điện thì các yếu tố bất lợi cho phát triển kinh tế của vùng sẽ nảy sinh tiếp tục làm giảm tốc độ tăng trưởng công nghiệp và kinh tế của cả vùng. (Ở đây cũng cần lưu ý phương pháp tính dịch vụ trong thống kê có thể chưa phản ảnh hết thực tế).

Vùng kinh tế trọng điểm phía Nam đang có một số điểm yếu phải đối mặt hiện nay. Ðó là:

- Tốc độ tăng trưởng chỉ đạt khoảng 76% so với Quyết định số 44/1998/QÐ đặt ra cho thời kỳ 1996 - 2000.

- Tốc độ tăng trưởng giá trị tổng sản lượng công nghiệp không đạt kế hoạch.

- Cơ cấu kinh tế chậm chuyển dịch về chất lượng, cơ cấu lao động chuyển dịch chậm.

- Hiệu quả đầu tư chưa cao, chồng chéo, mặc dù vùng chiếm tới 45% tổng vốn đầu tư phát triển của cả nước thời kỳ 1995 - 1999. Ðầu tư còn dàn trải, cơ cấu đầu tư chưa hợp lý, chưa tập trung mạnh cho ngành và sản phẩm mũi nhọn có lợi thế cạnh tranh.

- Chưa phát huy tốt tiềm năng của vùng kinh tế trọng điểm. Công nghệ, thiết bị trong công nghiệp còn lạc hậu, chất lượng sản phẩm chưa cao, năng suất lao động thấp.

- Việc triển khai thực hiện nhiệm vụ kinh tế - xã hội của các địa phương chưa thực sự gắn với quy hoạch đã được phê duyệt, chưa có sự điều hòa phối hợp chung, hiệu quả thấp. Việc phối hợp trong đầu tư giữa TW với địa phương chưa rõ ràng, chưa thể hiện đúng mục tiêu hàng đầu là đạt hiệu quả cao cho nền kinh tế. Tình trạng tự phát, mạnh ai nấy làm theo địa giới hành chính vẫn là phổ biến.

            1.1. Nguyên nhân chủ quan của các yếu kém có thể được phân tích theo những hướng sau đây:

a. Hệ thống cơ chế, chính sách thiếu đồng bộ chưa đáp ứng yêu cầu phát triển của vùng kinh tế trọng điểm, nhất là những cơ chế, chính sách đặc thù có tính đột phá cho vùng nên chưa khuyến khích mạnh các địa phương, doanh nghiệp, người lao động phát huy tiềm năng, lợi thế của mình, trước hết là chính sách đất đai, thuế, hải quan, tín dụng, xuất nhập khẩu, cơ chế phân cấp, đầu tư, cơ chế phối hợp v.v....

b. Việc lãnh đạo, chỉ đạo điều hành chưa tập trung và còn hạn chế. Quy hoạch phát triển còn nhiều hạn chế. Ðến nay, nhiều quy hoạch ngành và các lĩnh vực then chốt chưa được duyệt. Những quy hoạch đã duyệt về ngành và tỉnh, thành phố chưa khớp với quy hoạch tổng thể, chưa được điều chỉnh kịp thời và chấp hành tốt, chưa gắn quy hoạch với kế hoạch một cách chặt chẽ.

Ðội ngũ cán bộ làm quy hoạch, kế hoạch và hoạch định chính sách còn nhiều hạn chế.

c. Thủ tục hành chính còn nhiều khâu chưa thông suốt, cách thức phiền hà, cần được cải thiện mạnh hơn nữa.

            1.2. Những vấn đề cần tiếp tục nghiên cứu và triển khai về cơ cấu kinh tế vùng.

Cần khẳng định quy hoạch phát triển đô thị vùng KTTÐPN theo hướng đa trung tâm, đồng thời quy hoạch các khu công nghiệp của vùng một cách hợp lý không bị giới hạn bởi địa giới hành chính, quy hoạch kết cấu hạ tầng tập trung có trọng điểm hơn nữa nhất là hệ thống cảng, đường vành đai vào cảng Sài Gòn, đường sắt, vận tải hành khách công cộng.

Ðiều chỉnh cơ cấu đầu tư phải hướng vào mục tiêu tăng trưởng kinh tế, bảo đảm phát triển bền vững, cùng với việc đẩy mạnh phát triển kinh tế, phải có kế hoạch để đạt các mục tiêu xã hội, đặc biệt coi trọng giáo dục, đồng thời chú ý liên kết, khai thác các nguồn lực và thế mạnh của vùng.

Trong lĩnh vực công nghiệp, cần làm rõ cơ cấu ngành và cơ cấu thành phần kinh tế để từng bước đổi mới công nghệ và nâng cao chất lượng sản phẩm, hình thành cho được ngành và sản phẩm mũi nhọn có chất lượng cao. Phát triển khu công nghiệp phải tính rõ mức phát triển hợp lý về số lượng, quy mô, khả năng lấp đầy, đồng thời chú trọng xây dựng khu dân cư và cơ sở hạ tầng, đáp ứng nhu cầu đời sống vật chất và tinh thần của cán bộ, công nhân tại các khu công nghiệp. Cần tổ chức sản xuất dựa vào lợi thế so sánh, có sự lựa chọn phù hợp với thị trường và triển vọng phát triển trong điều kiện hội nhập. Sớm xây dựng chiến lược xuất khẩu ở các địa phương của vùng nhằm phát huy thế mạnh của từng địa phương và cả vùng.

Ngoài các ngành công nghiệp gắn với lợi thế so sánh của vùng đã được khẳng định, để nhanh chóng xây dựng công nghiệp công nghệ cao và công nghệ phần mềm thành một ngành mũi nhọn của vùng; cần phải khẩn trương xây dựng khu công nghệ cao ở TP. Hồ Chí Minh và hình thành các khu chế xuất phần mềm. Phải hết sức tranh thủ thời gian xây dựng ngành công nghiệp trí tuệ này thì mới có cơ may đuổi kịp các nước trong khu vực.

Về lĩnh vực thương mại, dịch vụ phải hướng hoạt động vào việc góp phần tạo ra yếu tố bảo đảm sự vững chắc, đồng bộ cho quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế, ưu tiên đầu tư để hình thành ngành công nghiệp dịch vụ cao cấp: tài chính, ngân hàng, chuyển giao thông nghệ, bảo hiểm, tư vấn.... Vùng kinh tế trọng điểm phía Nam phải đi đầu so với cả nước trong áp dụng và sử dụng các nghiệp vụ tài chính, ngân hàng tiên tiến của thế giới như thanh toán bằng thẻ điện tử, sử dụng rộng rãi các loại séc, tín phiếu, thương phiếu. Tích cực đưa nhiều "hàng hóa" vào thị trường chứng khoán và tổ chức tốt hoạt động giao dịch chứng khoán như một công cụ mạnh để thu hút và quay vòng vốn của nền kinh tế thị trường. Có chủ trương và biện pháp tích cực xây dựng TP. Hồ Chí Minh thành Trung tâm tài chính của Việt Nam và khu vực Ðông Nam Á.

Trong lĩnh vực nông nghiệp và phát triển nông thôn, thực hiện chuyển dịch cơ cấu kinh tế phải gắn kết với sự chuyển dịch cơ cấu dân số và lao động; hình thành và phát triển trang trại, các vùng chuyên canh. Gắn phát triển nông nghiệp với công nghiệp chế biến, thủ công nghiệp, thương mại dịch vụ trong mối liên kết thống nhất ngay trong từng địa phương và trên toàn vùng.

Phải coi kết cấu hạ tầng là nền tảng cho sự phát triển về chất của nền kinh tế toàn vùng. Tập trung để sớm hình thành đồng bộ khung hạ tầng cơ sở của vùng, tạo ra sự thống nhất về giao thông giữa cảng, sân bay, khắc phục tình trạng tự phát, chia cắt về hạ tầng giữa các địa phương trong vùng.

Du lịch trong vùng cần được quan tâm phát triển với thế mạnh về lưu trú, lữ hành, giải trí, nghỉ dưỡng, tắm biển cuối tuần, du lịch sinh thái, văn hóa, lịch sử. Cần tổ chức tốt việc hợp tác đầu tư về du lịch trong vùng để hoàn chỉnh các tuyến điểm du lịch có sức hấp dẫn du khách, không đầu tư dàn trải kém hiệu quả. Tích cực tạo ra những sản phẩm du lịch mới, xây mới các cơ sở du lịch một cách hợp lý, hiệu quả. Chú ý đào tạo nguồn nhân lực chuyên ngành du lịch. Cải tiến thủ tục cấp visa cho du khách, gỡ bỏ visa cho nhiều nước, nhiều đối tượng đến du lịch, hoặc tìm hiểu cơ hội làm ăn tại Việt Nam.

Vấn đề môi trường phải được quan tâm, đầu tư đúng mức để giải quyết trong mối quan hệ chung về phát triển kinh tế - xã hội của vùng và từng địa phương. Ðặc biệt cần chú ý các vấn đề: bảo vệ rừng đầu nguồn, rừng phòng hộ, xử lý chất thải, quản lý chặt chẽ việc khai thác tài nguyên khoáng sản và nguồn nước mặt hệ thống sông Ðồng Nai, sông Sài Gòn, sông Bé, Vàm Cỏ v.v....

 

Trích Báo cáo sơ khởi: CHUYỂN DỊCH CƠ CẤU NỘI BỘ CÁC NGÀNH KINH TẾ TRÊN ĐỊA BÀN VÙNG KINH TẾ TRỌNG ĐIỂM PHÍA NAM (Đề tài đang nghiên cứu của Viện Kinh tế TP.HCM)

(852 Lượt xem)

CÁC TIN BÀI KHÁC:
Ngôn ngữ Ngôn ngữ
English (United States) Tiếng Việt (Việt Nam)
Hoạt động nghiên cứu khoa học Hoạt động nghiên cứu khoa học
Tin hoạt động khoa học tháng 03 năm 2019 (8/4/2019)

Tin hoạt động khoa học tháng 02 năm 2019 (11/3/2019)

Tin hoạt động khoa học tháng 01 năm 2019 (21/2/2019)


Số lượt truy cập Số lượt truy cập
19603122