KINH TẾ VĨ MÔ - KINH TẾ NGÀNH KINH TẾ VĨ MÔ - KINH TẾ NGÀNH
Ðịnh hướng phát triển vùng kinh tế trọng điểm phía Nam

Tháng 2/1998 Thủ tướng Chính phủ đã có QÐ số 44/1998/QÐ-TTg về việc phê duyệt Quy hoạch tổng thể (QHTT) phát triển kinh tế - xã hội Vùng kinh tế trọng điểm phía Nam (VKTTÐPN) giai đoạn đến năm 2010 với các mục tiêu chủ yếu:

1. Xây dựng VKTTÐPN trở thành một trong những vùng kinh tế phát triển nhanh có tốc độ tăng trưởng kinh tế cao hơn so với các vùng khác trong cả nước.

2. Phấn đấu nâng GDP thời kỳ từ nay đến năm 2010, đạt từ 13,5% đến 14,5%, đi đầu trong một số lĩnh vực quan trọng, tạo động lực cho quá trình phát triển vùng Nam Bộ và góp phần thúc đẩy nền kinh tế cả nước.

3. Chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng công nghiệp hóa, hiện đại hóa của vùng và toàn khu vực phía Nam.

4. Hoàn thiện bước đầu và hiện đại hóa hệ thống cơ sở hạ tầng một cách đồng bộ.

5. Giải quyết cơ bản việc làm cho những người trong độ tuổi lao động.

6. Phát triển kinh tế - xã hội đi đôi với bảo vệ và cải thiện môi trường sinh thái.

7. Phát triển kinh tế phải gắn liền với tăng cường bảo đảm an ninh quốc phòng.

Chính phủ cho rằng, công nghiệp phải là lĩnh vực trọng yếu, tạo động lực cho phát triển kinh tế - xã hội của VKTTÐPN, phấn đấu phát triển để đạt tỷ trọng 49,0% GDP năm 2000 và 50,4% GDP năm 2010. Tốc độ phát triển ngành dịch vụ phải đạt từ 13% đến 15%/năm trong thời kỳ đến năm 2010.

Trong Quyết định số 44/1998/QÐ-TTg có chỉ ra rất nhiều khía cạnh phát triển của các ngành và các lĩnh vực tại VKTTÐPN.

Ðến nay, năm 2002 nhìn lại các nội dung quy hoạch có rất nhiều phần đúng đắn song cũng có những vấn đề cần điều chỉnh (đề nghị xem đề tài số 2 của đề tài cấp Nhà nước). Các báo cáo của Ban Cán sự Ðảng - Bộ Kế hoạch và Ðầu tư gửi Bộ Chính trị BCH TW Ðảng về "Kết quả phát triển 3 vùng kinh tế trọng điểm và quan hệ với các vùng khác", cũng như báo cáo của Ban Kinh tế TW về "Kết quả khảo sát và đề xuất một số giải pháp thuộc cơ chế chính sách để tiếp tục phát triển vùng kinh tế động lực", đã nêu được phần lớn các vấn đề nóng bỏng, nổi cộm trong sự phát triển của VKTTÐPN. Các báo cáo của Bộ Kế hoạch và Ðầu tư, của Ban Kinh tế TW, của nhiều nhà khoa học và quản lý tham gia nghiên cứu VKTTÐPN đã đề xuất nhiều nội dung, phương hướng phát triển cho toàn VKTTÐPN, vùng Ðông Nam Bộ (ÐNB) và cho các địa phương thuộc vùng này. Có rất nhiều giải pháp cho sự phát triển và quản lý, điều hành VKTTÐPN, làm sao để VKTTÐPN phát triển như một không gian kinh tế thống nhất, không bị chia cắt bởi các ranh giới hành chính.

Ngày 23/9/1998 Thủ tướng Chính phủ đã ra Chỉ thị số 32/1998/CT-TTg về công tác Quy hoạch tổng thể phát triển kinh tế xã hội thời kỳ đến 2010.

Thủ tướng Chính phủ đã yêu cầu các Bộ ngành, các tỉnh và thành phố trực thuộc TW phải "Rà soát và điều chỉnh quy hoạch phát triển ngành và địa phương trên phạm vi cả nước" cho phù hợp với tình hình và yêu cầu mới. Các tỉnh Ðồng Nai, Bình Dương, Bà Rịa-Vũng Tàu và TP.HCM đã tiến hành nghiên cứu triển khai rà xét  các dự án quy hoạch một cách nghiêm túc. Có thể đánh giá rằng, các tỉnh và thành phố thuộc VKTTÐPN đã xây dựng mới Quy hoạch tổng thể kinh tế - xã hội của địa phương mình. Có rất nhiều Nghị quyết của các Ðảng bộ tỉnh và thành phố về vấn đề này. Trong kế hoạch 5 năm 2001 - 2005 các tỉnh ÐNB nói chung và VKTTÐPN nói riêng đã có phần nào điều chỉnh tốc độ và cơ cấu tăng trưởng kinh tế cho giai đoạn này so với nội dung quy hoạch đã được thông qua.

Trên cơ sở các dự án QHTT phát triển kinh tế- xã hội của các tỉnh và TP. Hồ Chí Minh trong VKTTÐPN, trên cơ sở các dự báo tăng trưởng kinh tế giai đoạn 2001 - 2005 của các tỉnh và TP.HCM được đưa vào kế hoạch 5 năm 2001 - 2005, kết hợp với việc đánh giá hiện trạng phát triển kinh tế của vùng với dự báo bối cảnh kinh tế - xã hội sắp tới, vận dụng các Nghị quyết của Ðại hội Ðảng lần thứ IX có tính đến quá trình hội nhập kinh tế, chúng tôi đưa ra những dự báo ban đầu về sự phát triển VKTTÐPN đến năm 2010.

Trong Văn kiện Ðại hội đại biểu toàn quốc Ðảng Cộng sản Việt Nam lần thứ IX đã xác định đưa GDP năm 2010 lên ít nhất gấp đôi năm 2000 (có nghĩa là tốc độ tăng trưởng bình quân hàng năm là 7,2%). Trong các công trình nghiên cứu của Viện chiến lược phát triển - Bộ Kế hoạch và Ðầu tư, các cơ quan nghiên cứu kinh tế, các nhà khoa học ở các cơ quan TW và địa phương đều cho rằng VKTTÐPN phải có tốc độ tăng trưởng gấp 1,5 lần tốc độ tăng trưởng kinh tế của toàn quốc. Sau đây là dự báo tăng trưởng kinh tế của VKTTÐPN.

Tốc độ tăng trưởng kinh tế bình quân của VKTTÐPN thời kỳ 1996 - 2000 là 10,8% trong khi cả nước là 6,9%. Dự báo tốc độ tăng trưởng của vùng thời kỳ 2001 - 2010 là 11,2% (cả nước là 7,2%).

Tốc độ tăng trưởng giá trị gia tăng khu vực công nghiệp và xây dựng giai đoạn 1996 - 2000 của vùng đạt 14,85% (của cả nước là 10,6%). Dự báo tốc độ tăng trưởng công nghiệp và xây dựng thời kỳ 2001 - 2010 đạt 11,8%.

Khu vực dịch vụ của VKTTÐPN tăng bình quân 7,15% năm thời kỳ 1996 - 2000, trong khi của cả nước 5,7% năm.

Tốc độ tăng GDP NLN của vùng chỉ ở mức 2,85% (cả nước 4,3%) thời kỳ 1996-2000. Dự báo thời kỳ 2001-2010 tốc độ này của vùng sẽ đạt 4,3%.

Qua biểu dự báo cho thấy GDP của VKTTÐPN sẽ chiếm 47,3% GDP cả nước. Theo Nghị quyết Ðại hội Ðảng toàn quốc lần IX thì GDP cả nước đến năm 2010 sẽ tăng gấp đôi, tốc độ tăng bình quân là 7,2% năm, VKTTÐPN luôn tăng trưởng với tốc độ cao so cả nước là 11,2% năm.

Về giá trị gia tăng công nghiệp (kể cả xây dựng) Nghị quyết Ðại hội IX chỉ rõ trong thời kỳ 2001 - 2010 bình quân tăng 10 - 15%. Ðến năm 2010 công nghiệp và xây dựng chiếm 40 - 41% GDP. Dự báo phát triển công nghiệp và xây dựng của VKTTÐPN với tốc độ tăng trưởng của khu vực này là 11,8% năm và có cơ cấu chiếm khoảng 54 - 56% GDP của vùng. Giá trị gia tăng của công nghiệp và xây dựng VKTTÐPN sẽ chiếm khoảng 67,4% GDP công nghiệp và xây dựng toàn quốc. Ðến năm 2010 và sau đó đến 2020 rõ ràng VKTTÐPN là vùng công nghiệp lớn nhất cả nước, là vùng kinh tế có tiềm lực hùng mạnh là hạt nhân, là động lực thúc đẩy kinh tế đất nước đi lên, lôi kéo được các vùng lân cận (Tây Nguyên - ÐBSCL) phát triển vững mạnh.

So sánh thực trạng kinh tế thời kỳ 1996 - 2000 và cả dự báo đến năm 2010, ở toàn vùng và các tỉnh đều không đạt các chỉ số như trong bản QHTT đưa ra năm 1998 - (xem bảng phụ lục dự báo GDP vùng KTTÐPN). Gần như tất cả các chỉ tiêu do Thủ tướng Chính phủ phê duyệt QHTT vùng KTTÐPN trong Quyết định số 44/1998/QÐ-TTg đều không đạt.

Thực hiện Chỉ thị 333/CV-TW ngày 25 tháng 11 năm 1999 của Thường vụ Bộ Chính trị về việc tiến hành tổng kết một số chuyên đề, trong đó có tổng kết chủ trương phát triển vùng KTTÐPN và ý kiến chỉ đạo của Thủ tướng Chính phủ Chính phủ về việc tiến hành Hội nghị Chính phủ nhằm tổng kết chính sách phát triển vùng KTTÐPN - Bộ Kế hoạch và Ðầu tư đã lập tổ công tác liên ngành tiến hành bước đầu công tác khảo sát, điều tra thực tế, kết hợp tham khảo ý kiến lãnh đạo các địa phương, các chuyên gia kinh tế, các nhà khoa học. Tại Hội nghị kiểm điểm chủ trương phát triển vùng KTTÐPN và Ðông Nam Bộ. Tại TP. Hồ Chí Minh, từ ngày 5 đến ngày 7 tháng 1 năm 2000 Bộ Kế hoạch và Ðầu tư đã có báo cáo "Ðánh giá việc thực hiện các chủ  trương đẩy mạnh phát triển kinh tế - xã hội toàn diện, hiệu quả và bền vững vùng KTTÐPN và toàn vùng Nam Bộ".

Ngày 9 tháng 6 năm 2000, Ban Cán sự Ðảng Bộ Kế hoạch và Ðầu tư đã gửi đến Thường vụ Bộ Chính trị bản báo cáo "Kết quả phát triển 3 vùng kinh tế trọng điểm và uan hệ với các vùng khác".

Thực hiện nhiệm vụ do Thường trực Bộ Chính trị giao theo Công văn số 4241/CV-VPTW ngày 19 tháng 5 năm 2000 Ban Kinh tế TW đã cùng các tỉnh, thành phố, các Bộ ngành liên quan đã tiến hành khảo sát, đánh giá việc thực hiện chủ trương phát triển kinh tế 3 vùng trọng điểm. Ngày 12/10/2000 Ban Kinh tế TW đã có báo cáo gửi Ban chấp hành TW Ðảng với nhan đề "Báo cáo về kết quả khảo sát và đề xuất một số giải pháp thuộc cơ chế chính sách để tiếp tục phát triển vùng kinh tế động lực".

 

Trích Báo cáo sơ khởi: CHUYỂN DỊCH CƠ CẤU NỘI BỘ CÁC NGÀNH KINH TẾ TRÊN ĐỊA BÀN VÙNG KINH TẾ TRỌNG ĐIỂM PHÍA NAM (Đề tài đang nghiên cứu của Viện Kinh tế TP.HCM)

(454 Lượt xem)

CÁC TIN BÀI KHÁC:
Ngôn ngữ Ngôn ngữ
English (United States) Tiếng Việt (Việt Nam)
Hoạt động nghiên cứu khoa học Hoạt động nghiên cứu khoa học
Tin hoạt động khoa học tháng 03 năm 2019 (8/4/2019)

Tin hoạt động khoa học tháng 02 năm 2019 (11/3/2019)

Tin hoạt động khoa học tháng 01 năm 2019 (21/2/2019)


Số lượt truy cập Số lượt truy cập
19603319