KINH TẾ VĨ MÔ - KINH TẾ NGÀNH KINH TẾ VĨ MÔ - KINH TẾ NGÀNH
Đánh giá chung sự phát triển vùng Kinh tế trọng điểm phía Nam

Vùng kinh tế trọng điểm phía Nam (VKTTÐPN) được coi như một không gian kinh tế thống nhất gồm TP. Hồ Chí Minh và 3 tỉnh Ðồng Nai, Bà Rịa-Vũng Tàu, Bình Dương và đã được Thủ tướng Chính phủ nêu ra tại Quyết định số 44/1998-TTg. Vùng KTTÐPN là hạt nhân của vùng Ðông Nam Bộ (ÐNB) gồm TP. Hồ Chí Minh và 8 tỉnh là Ðồng Nai, Bà Rịa-Vũng Tàu, Bình Dương, Bình Phước, Tây Ninh, Lâm Ðồng, Bình Thuận và Ninh Thuận, có mối quan hệ chặt chẽ với Tây Nguyên và Ðồng Bằng Sông Cửu Long (ÐBSCL).

            Thực tiễn những năm qua cho thấy, vùng KTTÐPN là vùng lãnh thổ phát triển năng động nhất cả nước, góp phần quan trọng vào thành tựu chung của Ðảng và Nhà nước ta, của các ngành, các địa phương về phát triển vùng KTTÐPN nói chung phản ánh tính chính xác của các quyết sách ở tầm vĩ mô và thành quả lao động sáng tạo của Ðảng Bộ, quân dân các địa phương trong vùng.

            Vùng KTTÐPN đã đạt được tốc độ tăng trưởng cao liên tục trong nhiều năm, trong thời kỳ 1991 - 1999 nhịp độ tăng trưởng bình quân hàng năm đạt 11,2%. Nhịp độ tăng trưởng GDP bình quân thời kỳ 1996 - 2000 đạt 10,8%, đạt hơn 76% so với mục tiêu Chính phủ phê duyệt quy hoạch tổng thể thời kỳ 1996 - 2000 (13,5%). Thực trạng phát triển vùng KTTÐPN xin xem phụ lục biểu.

            Năm 1991 - 1999 nhịp độ tăng trưởng cả nước đạt 7,6% thì vùng KTTÐPN đạt 11,2%, trong đó nhịp độ tăng trưởng GDP bình quân thời kỳ 1991 - 1995 vùng KTTÐPN đạt 11,7% (cả nước 8,2%) và thời kỳ 1997 - 2001 vùng KTTÐPN đạt 10,7% trong khi cả nước đạt 6,5%.

            Do tốc độ tăng trưởng của vùng cao hơn mức tăng trưởng bình quân của cả nước, nên 10 năm qua vị trí vùng KTTÐPN trong nền kinh tế cả nước được nâng cao: tỷ trọng GDP của vùng KTTÐPN so cả nước từ 24,6% năm 1990 lên 28,9% năm 1995, 31,1% năm 1999 và 32,6% năm 2000.

Giá trị gia tăng công nghiệp thời kỳ 1997 - 2001 của cả nước tăng trưởng bình quân 10,3% thì công nghiệp-xây dựng vùng KTTÐPN tăng bình quân 13,8%, góp phần quan trọng vào việc cung cấp hàng tiêu dùng, nguyên liệu cho sản xuất và đẩy mạnh xuất khẩu.

            Năm 2001 vùng KTTÐPN có mức tăng trưởng 10,9% vượt xa mức tăng trưởng bình quân cả nước là 6,8%, dẫn đầu là tỉnh Bình Dương tăng 14,2%, Bà Rịa - Vũng Tàu tăng 13,4%, Ðồng Nai tăng trên 11,2% và TP. Hồ Chí Minh là 9,5%.

            Công nghiệp, thế mạnh đặc thù của khu vực này, vẫn tiếp tục phát triển với tốc độ cao: trung bình giai đoạn 1997-2001, giá trị gia tăng công nghiệp trên địa bàn Vùng tăng bình quân 14,6%, trong đó Bình Dương tăng 20,9%, Bà Rịa-Vũng Tàu tăng 16,8%, Ðồng Nai tăng 16% và TP.HCM tăng 12,2%, . Trong năm 2001, 4 tỉnh, thành phố trong vùng đã thu hút hơn 330 dự án đầu tư nước ngoài với tổng vốn đăng ký mới và bổ sung hơn 2,4 tỷ USD. Khu vực này tiếp tục dẫn đầu cả nước về thu hút đầu tư nước ngoài và ngày càng thể hiện rõ nét hơn xu hướng phục hồi nhịp độ thu hút đầu tư nước ngoài nhờ hoàn chỉnh và đổi mới hệ thống chính sách, thực hiện giảm giá thuê đất, tăng cường công tác xúc tiến thương mại - đầu tư, cải tiến và đơn giản hóa thủ tục.

            Một thành công quan trọng khác của vùng KTTÐPN là sự chuyển biến tích cực trong lĩnh vực đầu tư. Không chỉ tăng mạnh về thu hút đầu tư nước ngoài mà tất cả các nguồn đầu tư của các khu vực, ngành và thành phần kinh tế đều tăng cao. Tổng vốn đầu tư toàn xã hội trên địa bàn năm 2001 đạt trên 42.000 tỷ đồng là tín hiệu bứt phá sau một số năm chững lại. Bà Rịa - Vũng Tàu có nhịp độ tăng trưởng vốn đầu tư xã hội bằng 3 lần năm trước, Ðồng Nai tăng 50% và TP.HCM tăng 10,3% là hiệu quả tổng hợp của nhiều nhân tố tích cực, từ đổi mới cơ chế chính sách ở tầm vĩ mô, thực hiện cải cách hành chính, thực hiện dân chủ ở cơ sở, đẩy mạnh đầu tư cho cơ sở hạ tầng... đến sự tháo gỡ những vướng mắc cho doanh nghiệp về thủ tục đầu tư, giao và cho thuê đất, về giải ngân vốn.

            Dân số đô thị vùng KTTÐPN chiếm hơn 63% dân số của vùng, trong khi đó tỷ lệ này của cả nước là 23%.

            GDP bình quân đầu người của vùng KTTÐPN bằng 2,7 lần mức trung bình cả nước.

            Trong điều kiện kinh tế và công nghiệp phát triển nhanh, cơ cấu ngành kinh tế trong vùng ÐNB và vùng KTTÐPN đã có sự chuyển biến nhất định theo hướng tăng nhanh tỷ trọng công nghiệp, giảm tương đối tỷ trọng nông nghiệp theo xu hướng chung của quy hoạch.

            Tất cả các tỉnh, thành phố trong vùng đều coi chuyển dịch cơ cấu kinh tế là vấn đề chiến lược của mình để thực hiện các mục tiêu nhiệm vụ phát triển vùng và đặc thù phát triển các tỉnh trong vùng. Thời kỳ 1991 - 1999 cơ cấu kinh tế của vùng có sự chuyển dịch khá nhanh. Các tỉnh trong vùng đều chú trọng phát triển nông nghiệp và nông thôn trong quá trình thực hiện chính sách công nghiệp hóa, hiện đại hóa. Ðã xuất hiện một số vùng nông nghiệp sản xuất hàng hóa quy mô lớn, có mối liên kết với công nghiệp chế biến và xuất khẩu. Mặc dù nông nghiệp trong vùng vẫn tăng khá, bảo đảm cung cấp hàng nông sản cho công nghiệp và xuất khẩu, nhưng do công nghiệp và dịch vụ tăng nhanh nên tỷ trọng tương đối của nông nghiệp trong GDP đã giảm bớt và đây là xu hướng lành mạnh. Năm 1990 tỷ trọng nông lâm ngư trong GDP của vùng ÐNB còn chiếm tới 21,15% đến năm 1995 chỉ còn 10,52% và năm 1999 xuống dưới 8%. Nếu chỉ tính riêng cho vùng KTTÐPN thì tỷ trọng này còn thấp hơn nữa, năm 2000 là 5,9%.

            Một trong những thành công đáng kể của tất cả các địa phương trong vùng là trong 10 năm qua tỷ trọng công nghiệp và dịch vụ đã tăng đáng kể, một lực lượng lớn lao động đã được thu hút vào khu vực phát triển công nghiệp và dịch vụ tạo nhân tố thúc đẩy nhanh phát triển kinh tế thời kỳ 1991 - 1997. Việc đẩy mạnh thực hiện các chủ trương phát triển công nghiệp và cơ sở hạ tầng trong các quy hoạch các địa phương và trong quy hoạch công nghiệp và kết cấu hạ tầng được thông qua năm 1996 đã vạch ra định hướng đúng trong phát triển, đặc biệt là sự khởi sắc của nhiều khu công nghiệp trong vùng.

            Mấy năm gần đây, khu vực dịch vụ sau một thời gian tăng nhanh đã chững lại và tăng chậm hơn nhịp độ tăng trưởng chung của GDP, làm giảm khả năng lan tỏa tác động tích cực của vùng KTTÐPN. Tốc độ tăng bình quân khu vực dịch vụ 1997 – 2001 của vùng đạt 6,9% (trong khi tốc độ tăng GDP là 10,7%).

            Tỷ trọng khu vực dịch vụ của vùng KTTÐPN có xu hướng giảm là điều rất đáng băn khoăn. Ở đây có vấn đề phải xem xét lại về phương pháp thống kê mảng dịch vụ trong hệ thống tài khoản SNA. Tuy nhiên, sự chuyển dịch không đúng hướng này làm giảm hiệu quả kinh tế - xã hội trong phát triển vùng, nhất là đối với vùng KTTÐPN. Nếu xu thế này không được điều chỉnh kịp thời trên cơ sở các chính sách ưu tiên đầu tư thúc đẩy phát triển mạnh thương mại, dịch vụ, du lịch, dịch vụ tài chính ngân hàng, dịch vụ vận tải, bưu điện... thì các yếu tố bất lợi cho phát triển kinh tế của vùng sẽ nảy sinh tiếp tục làm giảm tốc độ tăng trưởng công nghiệp và kinh tế của vùng. Tuy nhiên ở đây cần xem xét lại việc thống kê các ngành dịch vụ đã đầy đủ và hoàn chỉnh hay chưa, khái niệm dịch vụ đã thống nhất chưa, bao gồm các hoạt động nào ...

            Qua số liệu tính toán cho thấy tỷ trọng dịch vụ trong cơ cấu GDP của vùng KTTÐPN giảm từ 44,4% (1996) xuống 37,4% (2001), trong đó ở TP.HCM tỷ lệ này giảm từ 57,4% xuống 52%, tỉnh Ðồng Nai từ 25,8% giảm xuống 23,5%, tỉnh Bà Rịa-Vũng Tàu giảm từ 18,9% xuống 13% và tỉnh Bình Dương giảm từ 28,5% xuống 23,7%.

                                                             

Trích Báo cáo sơ khởi: CHUYỂN DỊCH CƠ CẤU NỘI BỘ CÁC NGÀNH KINH TẾ TRÊN ĐỊA BÀN VÙNG KINH TẾ TRỌNG ĐIỂM PHÍA NAM (Đề tài đang nghiên cứu của Viện Kinh tế TP.HCM).

(763 Lượt xem)

CÁC TIN BÀI KHÁC:
Ngôn ngữ Ngôn ngữ
English (United States) Tiếng Việt (Việt Nam)
Hoạt động nghiên cứu khoa học Hoạt động nghiên cứu khoa học
Tin hoạt động nghiên cứu khoa học tháng 9 năm 2019 (16/10/2019)

Hội thảo khoa học "Tác động của Cách mạng công nghiệp lần thứ 4 và Kinh tế số đến nguồn nhân lực, cách thức vận hành và chuyển dịch cơ cấu kinh tế của Thành phố" (10/9/2019)

Tin hoạt động khoa học tháng 8 năm 2019 (4/9/2019)


Số lượt truy cập Số lượt truy cập
20221040