KINH TẾ VĨ MÔ - KINH TẾ NGÀNH KINH TẾ VĨ MÔ - KINH TẾ NGÀNH
Tăng trưởng dưới mức tiềm năng

Nền kinh tế của Việt Nam tăng trưởng nhanh là một hiện thực, không chỉ dưới con mắt người nước ngoài, cũng không chỉ dưới lăng kính kinh tế vĩ mô, mà sự tăng trưởng này còn có thể được cảm nhận ở đại bộ phận hộ gia đình là các tế bào của nền kinh tế. Thế thì tại sao lại phải lo lắng và hoài nghi về triển vọng tăng trưởng? Vấn đề là ở chỗ, liệu chúng ta đã phát huy hết tiềm năng tăng trưởng của quốc gia hay chưa? Chất lượng, hiệu quả tăng trưởng của chúng ta ra sao? Chúng ta có thể tiếp tục duy trì tốc độ tăng trưởng cao trong những năm tới hay không?

Nền kinh tế của Việt Nam tăng trưởng nhanh là một hiện thực, không chỉ dưới con mắt người nước ngoài, cũng không chỉ dưới lăng kính kinh tế vĩ mô, mà sự tăng trưởng này còn có thể được cảm nhận ở đại bộ phận hộ gia đình là các tế bào của nền kinh tế. Thế thì tại sao lại phải lo lắng và hoài nghi về triển vọng tăng trưởng? Vấn đề là ở chỗ, liệu chúng ta đã phát huy hết tiềm năng tăng trưởng của quốc gia hay chưa? Chất lượng, hiệu quả tăng trưởng của chúng ta ra sao? Chúng ta có thể tiếp tục duy trì tốc độ tăng trưởng cao trong những năm tới hay không?

Một cách đánh giá xem liệu nền kinh tế của chúng ta đã sử dụng các nguồn lực một cách hiệu quả để đạt tốc độ tăng trưởng cao nhất hay chưa là so sánh với các nền kinh tế khác, chứ không phải là so sánh với chính mình như cách chúng ta hay làm xưa nay. Trong bảng 1, để có một cái nhìn đối chiếu, chúng tôi cung cấp số liệu của ba nước Việt Nam, Ấn Độ và Trung Quốc trong năm 2003 (là năm gần nhất có số liệu đầy đủ của cả ba nước). Trừ những số liệu về tăng trưởng, các số liệu còn lại đều được tính trên đầu người.

Lẽ ra tăng trưởng phải cao hơn

Những số liệu này cho thấy, về mặt tuyệt đối, nguồn lực trên đầu người có được từ nguồn ngoại sinh (bên ngoài nền kinh tế) hay từ nguồn có sẵn của Việt Nam vào khoảng 114-136 đô la, cao gấp 3-4 lần của Ấn Độ (33 đô la) và gấp rưỡi Trung Quốc (86 đô la). Còn về mặt tương đối hệ số nguồn lực ngoại sinh và sẵn có so với GDP đầu người của ta là 0,24-0,28, gấp khoảng năm lần so với Ấn Độ (0,05) và bằng 3-3,5 lần của Trung Quốc (0,08). Thuận lợi của nước ta còn lớn hơn trong hơn một năm trở lại đây khi giá dầu lửa đã tăng đến mức kỷ lục kể từ lần khủng hoảng trước. Thế nhưng, về tốc độ tăng trưởng, chúng ta không hơn Ấn Độ và rõ ràng là thua Trung Quốc khá xa.

Hơn nữa, hầu hết các nghiên cứu về kinh tế học tăng trưởng đều chỉ ra rằng, với các điều kiện như nhau thì các nước thuộc nhóm có mức thu nhập thấp có thể tăng trưởng với tốc độ cao hơn so với các nước thuộc nhóm thu nhập cao hơn.

Rõ ràng nền kinh tế Việt Nam đang tăng trưởng dưới mức tiềm năng mà lẽ ra nó phải đạt được. Tăng trưởng kinh tế ở đây được đo lường bằng tốc độ thay đổi tổng lượng giá trị gia tăng do nền kinh tế tạo ra trong một năm; và như vậy, chúng ta có nhiều lý do để lo lắng về khả năng tạo ra giá trị gia tăng và sức cạnh tranh của nền kinh tế của Việt Nam so với các đối thủ cạnh tranh của mình.   

Có lập luận cho rằng chúng ta phát triển thấp hơn tiềm năng là vì ngoài mục tiêu tăng trưởng, chúng ta còn có trách nhiệm duy trì sự công bằng về kinh tế giữa những nhóm người có mức thu nhập khác nhau. Hay nói cách khác, có một sự đánh đổi giữa tăng trưởng và công bằng kinh tế. Đúng là chúng ta đã cố gắng rất nhiều để cải thiện mức sống cho những nhóm người có mức thu nhập thấp nhất, và điều này thể hiện trong thành tích xóa đói giảm nghèo của Việt Nam trong thời gian qua. Tuy nhiên, một lần nữa, không nên chỉ so sánh với bản thân mình mà cần so sánh với các quốc gia khác. Bảng 2 cung cấp những chỉ số phản ánh mức độ bình đẳng trong phân phối thu nhập của ba nước Việt Nam, Ấn Độ và Trung Quốc.

Tỷ lệ phần trăm trong tổng thu nhập của 20% hộ giàu nhất ở Việt Nam cao hơn của Ấn Độ và thấp hơn của Trung Quốc một chút; đồng thời phần trăm trong tổng thu nhập của 20% số hộ nghèo nhất ở Việt Nam lại thấp hơn của Ấn Độ và cao hơn của Trung Quốc. Điều này có nghĩa là, về tính bình đẳng trong phân phối thu nhập thì Việt Nam tuy hơn Trung Quốc nhưng lại không bằng Ấn Độ. Nếu kết hợp với số liệu trong bảng 1 thì có thể rút ra nhận xét rằng về mặt tốc độ tăng trưởng kinh tế, Việt Nam xấp xỉ Ấn Độ nhưng lại thấp hơn Trung Quốc. Còn về phương diện phân phối thu nhập, Việt Nam khá giống Trung Quốc - là nước có phân phối bất bình đẳng nhất trong ba nước. Từ những đối chiếu này, chúng ta thấy Việt Nam có thể vừa tăng trưởng cao hơn (như Trung Quốc), đồng thời vẫn có thể tạo ra một sự phân phối bình đẳng hơn (như Ấn Độ).

Lực cản tốc độ tăng trưởng

Ngoài một thực tế là Việt Nam hiện đang tăng trưởng dưới tiềm năng, chúng ta còn có cơ sở để lo ngại về khả năng duy trì tốc độ tăng trưởng trong những năm tới. Cơ sở thứ nhất là tình trạng lãng phí và kém hiệu quả trong đầu tư. Theo ý kiến của một số đại biểu Quốc hội, thất thoát trong đầu tư xây dựng cơ bản và đầu tư công nói chung ước tính có thể lên tới 30-40%. Còn về đầu tư thì tỷ lệ đầu tư vào khu vực công đã và đang cao hơn rất nhiều so với khu vực dân doanh, và điều này sẽ chiếm nguồn lực và lấn át đầu tư của khu vực tư, trong khi đó các số liệu thống kê đều cho thấy khu vực tư có tốc độ tăng trưởng cao hơn, suất sinh lợi cao hơn, và tạo ra khoảng 90% việc làm mới cho xã hội. Hệ quả chung là một đồng vốn đầu tư ngày càng tạo ra ít giá trị gia tăng hơn, và do vậy ảnh hưởng nghiêm trọng đến tốc độ tăng trưởng và năng lực cạnh tranh của nền kinh tế.

Thứ hai, mối quan hệ tay ba giữa Nhà nước, doanh nghiệp nhà nước và hệ thống ngân hàng thương mại quốc doanh đã và đang là một trở ngại to lớn trên con đường nâng cao hiệu quả của khu vực kinh tế nhà nước và sự ổn định, bền vững của hệ thống ngân hàng. Điều này càng trở nên trầm trọng hơn khi Nhà nước, vì theo đuổi những chỉ tiêu kế hoạch có tính vĩ mô (tăng trưởng 8,5% trong năm 2005 chẳng hạn), đã can thiệp quá sâu vào nền kinh tế bằng những biện pháp mệnh lệnh, duy ý chí. Hệ quả tất yếu là hiệu quả đầu tư của toàn bộ nền kinh tế giảm sút. Nguy hại hơn, những “biến dạng” do đầu tư cưỡng bách và chính sách can thiệp đột xuất sẽ gây nên những hậu quả lâu dài khôn lường cho nền kinh tế.

Còn một nguyên nhân thứ ba nữa khiến chúng ta phải lo lắng cho sự ổn định của nền kinh tế. Nếu phân tích số liệu thống kê của Việt Nam trong mấy năm trở lại đây thì sẽ thấy rằng luôn tồn tại một số nguy cơ tiềm tàng có khả năng dẫn tới khủng hoảng như tỷ lệ nợ xấu của các ngân hàng thương mại (chủ yếu là ngân hàng quốc doanh) theo tiêu chuẩn quốc tế rất cao; hiệu quả đầu tư thấp (thể hiện qua chỉ số ICOR tăng rất nhanh trong 10 năm trở lại đây); những triệu chứng của bong bóng tài sản và tính kém linh hoạt và minh bạch của thị trường bất động sản... Những nguy cơ này cần được khắc phục trước khi nền tài chính của chúng ta hội nhập sâu hơn và trở nên mở hơn, mà điều này là một tất yếu trong bối cảnh toàn cầu hóa hiện nay. Hơn nữa, kinh nghiệm của cuộc khủng hoảng tài chính - tiền tệ ở Đông Á và Đông Nam Á năm 1997-1998 cho thấy, khả năng miễn nhiễm rủi ro và phục hồi của nền kinh tế Việt Nam không cao. Cụ thể là mặc dù Việt Nam không chịu ảnh hưởng nhiều như những nước khác (một phần là do vào thời điểm 1997, mức độ hội nhập kinh tế của Việt Nam còn hạn chế), nhưng tốc độ phục hồi của nền kinh tế lại rất chậm chạp.

Thứ tư, khung pháp lý của chúng ta tuy đã hoàn thiện nhưng còn rất nhiều bất cập. Nhiều tác giả đã bình luận về tình trạng luật vừa thừa vừa thiếu, không đồng bộ, thiếu nhất quán, nhiều điểm còn chưa  phù hợp và hài hòa với thông lệ quốc tế, quy trình làm luật còn cần phải hoàn thiện... Ở đây có lẽ chỉ cần minh họa bằng một ví dụ mới đây về Luật Đầu tư chung. Dường như động cơ ban đầu của việc gấp rút soạn thảo đạo luật này là để đẩy nhanh tiến trình gia nhập WTO vào cuối năm 2005 như đã định. Thế nhưng, trong quá trình soạn thảo luật, ban soạn thảo đã không chú ý đúng mức tới việc tôn trọng quyền lợi hợp pháp và hợp thông lệ của cả các nhà đầu tư dân doanh trong nước và các nhà đầu tư nước ngoài (được phản ánh qua sự lên tiếng của các phòng thương mại của EU, Úc và Mỹ). Điều này làm nản lòng các nhà đầu tư và có thể làm chậm lại và yếu bớt làn sóng đầu tư nước ngoài đang có dấu hiệu trở lại Việt Nam trong một vài năm trở lại đây.

Bảng 1: Một số chỉ tiêu về nguồn lực và tăng trưởng của Việt Nam,
Ấn Độ, Trung Quốc (2003)

Nguồn lực (trên đầu người)

Việt Nam

Ấn Độ

Trung Quốc

Đầu tư trực tiếp nước ngoài

$19

$4

$41

Viện trợ phát triển chính thức

$22

$1

$1

Kiều hối

$28 - $50

$22

$14

Dầu lửa (giá năm 2003 là 30/thùng)

1,5 thùng ($45)

0,2 thùng ($6)

1 thùng ($30)

Tổng nguồn lực/đầu người

$114 - $136

$33

$86

GDP/đầu người

$483

$565

$1.100

Hệ số nguồn lực/GDP đầu người

0,24 - 0,28

0,05

0,08

Tăng trưởng GDP

7 - 7,5%

7 - 8%

9%

Nguồn: World Development Indicators 2005 và Tài liệu tư vấn của IMF.

Bảng 2:
Phân phối thu nhập của Việt Nam, Ấn Độ, Trung Quốc năm 2002

PPhần trăm trong tổng thu nhập của

Việt Nam

Ấn Độ

Trung Quốc

20% hộ có thu nhập cao nhất

49%

46%

50%

20% hộ có thu nhập thấp nhất

6,1%

8,1%

4,7%

Nguồn: Điều tra mức sống hộ gia đình Việt Nam 2002 (Bảng 50), Niên giám thống kê 2004 (Bảng 308).

 

Vũ Thành Tự Anh

                                                     Chương trình giảng dạy kinh tế Fulbright

Thời báo kinh tế Sài Gòn số 1-2006 ngày 29/12/2005

 

 

(3022 Lượt xem)

CÁC TIN BÀI KHÁC:
Ngôn ngữ Ngôn ngữ
English (United States) Tiếng Việt (Việt Nam)
Hoạt động nghiên cứu khoa học Hoạt động nghiên cứu khoa học
Tin hoạt động nghiên cứu khoa học tháng 9 năm 2019 (16/10/2019)

Hội thảo khoa học "Tác động của Cách mạng công nghiệp lần thứ 4 và Kinh tế số đến nguồn nhân lực, cách thức vận hành và chuyển dịch cơ cấu kinh tế của Thành phố" (10/9/2019)

Tin hoạt động khoa học tháng 8 năm 2019 (4/9/2019)


Số lượt truy cập Số lượt truy cập
20220985