KINH TẾ VĨ MÔ - KINH TẾ NGÀNH KINH TẾ VĨ MÔ - KINH TẾ NGÀNH
Kinh tế - xã hội TP.HCM 5 năm 2006 – 2010: Định hướng phát triển các ngành và lĩnh vực kinh tế

Ngày 22/11/2005 Ban chấp hành Đảng bộ TP.HCM đã công bố dự thảo Báo cáo về kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội TP.HCM 5 năm 2006 - 2010 trình Đại hội thành phố khóa VIII, để xin ý kiến của đồng bào, đồng chí. Thời báo kinh tế Việt Nam trân trọng giới thiệu một số định hướng phát triển kinh tế.

Ngày 22/11/2005 Ban chấp hành Đảng bộ TP.HCM đã công bố dự thảo Báo cáo về kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội TP.HCM 5 năm 2006 -  2010 trình Đại hội thành phố khóa VIII, để xin ý kiến của đồng bào, đồng chí. Thời báo kinh tế Việt Nam trân trọng giới thiệu một số định hướng phát triển kinh tế.

Định hướng phát triển các ngành và lĩnh vực kinh tế.

1. Về kinh tế:

Chỉ tiêu tốc độ tăng trưởng tổng sản phẩm trong nước (GDP) của thành phố giai đoạn 2006 – 2010 bình quân là 12%/năm; trong đó tốc độ tăng trưởng giá trị gia tăng các ngành kinh tế như sau:

-         Nông nghiệp (khu vực I): từ 5% trở lên;

-         Công nghiệp – xây dựng (khu vực II): 12,2%, trong đó giá trị gia tăng công nghiệp tăng bình quân 12,5%/năm;

-         Dịch vụ (khu vực III): 12%

Công nghiệp sẽ có tốc độ tăng trưởng chậm hơn giai đoạn 2001 – 2005 một ít và dịch vụ có tốc độ tăng trưởng nhanh hơn giai đoạn 2001 – 2005. Công nghiệp có tốc độ tăng trưởng chậm hơn giai đoạn trước do thành phố tập trung điều chỉnh cơ cấu các ngành công nghiệp. Định hướng chuyển dịch cơ cấu kinh tế thành phố sang những ngành kỹ thuật cao, giá trị gia tăng cao như điện tử - tin học – viễn thông, cơ khí chế tạo, vật liệu mới, hóa dược, công nghệ sinh học, thì tỷ trọng các ngành truyền thống trên sẽ giảm xuống. Công nghiệp thành phố phải chấp nhận sự sụt giảm tăng trưởng tạm thời ở các ngành này để tạo ra cơ cấu công nghiệp hiện đại và bền vững trong tương lai. Tuy nhiên dự báo cũng dự trù là quá trình điều chỉnh cơ cấu công nghiệp của thành phố có thể không ảnh hưởng tiêu cực đến tốc độ tăng trưởng chung của công nghiệp. Trong trường hợp đó các ngành, sản phẩm công nghiệp mới phát triển mạnh mẽ bù đắp được sự sụt giảm tăng trưởng ở các ngành truyền thống. Bản thân các ngành công nghiệp truyền thống cũng có sự điều chỉnh kịp thời theo hướng tăng hàm lượng kỹ thuật, chất xám và giá trị gia tăng trong cơ cấu sản xuất. Thị trường các sản phẩm công nghiệp được củng cố và mở rộng ở cả trong và ngoài nước. Theo đó các ngành công nghiệp truyền thống của thành phố như chế biến thực phẩm, dệt – may, cao su – nhựa, chất tẩy rửa – hóa chất tiếp tục chiếm tỷ trọng lớn so với cả nước và đi vào giai đoạn phát triển chiều sâu với hàm lượng giá trị gia tăng tăng dần, đáp ứng nhu cầu tiêu dùng tăng nhanh của thị trường nội địa. Thị trường xuất khẩu của các ngành này cũng được mở rộng.

Đối với các ngành dịch vụ, nhìn chung triển vọng phát triển là tốt hơn giai đoạn 2001 – 2005. Sau 10 năm có tốc độ tăng trưởng giảm sút so với công nghiệp (1996 – 2005), dự kiến trong giai đoạn tăng trưởng xấp xỉ với công nghiệp, tạo điều kiện để tăng trưởng cao hơn công nghiệp trong giai đoạn sau 2010.

Dịch vụ phát triển mạnh mẽ là do công nghiệp phát triển vững chắc hơn giai đoạn trước tạo nhu cầu đối với sản phẩm dịch vụ, đồng thời thu nhập người dân thành phố ngày càng tăng cao nên các nhu cầu về dịch vụ sẽ phát triển cả về số lượng và chất lượng. Tăng trưởng công nghiệp của các địa phương trong vùng cũng sẽ làm gia tăng nhu cầu dịch vụ của thành phố. Tăng trưởng dịch vụ đang có xu hướng đi lên, giá trị gia tăng của khu vực dịch vụ năm 2005 tăng 12,2% và liên tục tăng trong những năm gần đây. Hơn nữa, quá trình xã hội hóa đầu tư ở tất cả các lĩnh vực dịch vụ sẽ tạo ra động lực mạnh mẽ phát triển các ngành này.

Để đạt được tốc độ tăng trưởng kinh tế 12%/năm thì đầu tư sẽ khởi sắc ở hầu hết các lĩnh vực công nghiệp, dịch vụ và đầu tư công. Các doanh nghiệp nhà nước ở trung ương và địa phương chuyển hướng đầu tư mạnh công nghệ cao, nghiên cứu và triển khai (R và D). Đầu tư của khu vực dân doanh sẽ được mở rộng ra hầu hết các lĩnh vực dịch vụ hiện đại và bắt đầu đầu tư vào công nghệ cao. Đầu tư nước ngoài sẽ gia tăng mạnh trở lại, nhất là ở các ngành dịch vụ. Đầu tư và trí tuệ của bà con Việt kiều được phát huy trong quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế này.

Đối với ngành nông nghiệp, tốc độ tăng giá trị gia tăng bình quân là 5%/năm, tốc độ này cao hơn tốc độ tăng trưởng giai đoạn 2001 – 2005. Cơ sở là tuy diện tích đất nông nghiệp tiếp tục bị thu hẹp do quá trình đô thị hóa và phát triển công nghiệp, dự kiến giai đoạn 2006 – 2020 giảm khoảng 10.000 – 11.000 ha (theo Quyết định số 1060/QĐ-TTg ngày 4/10/2004 của Thủ tướng Chính phủ) và tốc độ tăng trưởng ngành thủy sản (tôm) giai đoạn 2006 – 2010 sẽ không cao như giai đoạn 2001 – 2005, nhưng các sản phẩm nông nghiệp khác có triển vọng sẽ tăng trưởng đột biến hơn giai đoạn 2001 – 2005 như cây giống, con giống, hoa kiểng, cá kiểng. Ngành nông nghiệp có tỷ trọng nhỏ trong cơ cấu kinh tế thành phố nên tốc độ tăng trưởng của ngành nông nghiệp không ảnh hưởng nhiều đến tốc độ tăng trưởng kinh tế thành phố.

Cơ cấu năm 2010 gần như ổn định so với năm 2005; chấm dứt tình trạng 10 năm giảm sút tỷ trọng dịch vụ trong cơ cấu GDP (năm 1995 khu vực dịch vụ chiếm 57,8%; năm 2000: 53,2%; năm 2005: 50,6%). Tuy nhiên cơ cấu nội bộ của khu vực dịch vụ sẽ phát triển tích cực hơn với những ngành dịch vụ cao cấp mà thành phố có lợi thế.

2. Về xuất khẩu:

Dự báo tốc độ tăng trưởng xuất khẩu giai đoạn 2006 – 2010 khoảng 15%/năm (không tính dầu thô). Tốc độ tăng trưởng này cao hơn tốc độ tăng trưởng xuất khẩu giai đoạn 2001 – 2005. Tổng kim ngạch xuất khẩu thành phố (không tính dầu thô) năm 2010 ước đạt khoảng 10 tỷ USD.

3. Vốn đầu tư:

Để đạt tốc độ tăng trưởng cao hơn, trong giai đoạn 2006 – 2010 kinh tế thành phố cần phải đầu tư nhiều hơn. Dự báo hệ số ICOR cũng sẽ tăng lên, do nhu cầu điều chỉnh cơ cấu kinh tế, tăng đầu tư cho các ngành kinh tế kỹ thuật hiện đại và do nhu cầu đầu tư vào các dự án hạ tầng kỹ thuật đô thị ngày càng cần vốn nhiều hơn, thời gian hoàn vốn lâu hơn, độ trễ của đầu tư sẽ cao hơn, do đó ICOR sẽ tăng. Hệ số ICOR dự kiến cho toàn giai đoạn là 3.1. Dự kiến nhu cầu vốn đầu tư phát triển thành phố giai đoạn 2006 – 2010 là: dự kiến tỷ lệ đầu tư/GDP 37,2%.

Với hệ số ICOR 3.1, để đạt được tốc độ tăng trưởng kinh tế là 12% thì tỷ lệ đầu tư trên GDP là 37,2%…. Dự kiến tổng vốn đầu tư cho giai đoạn 2006 – 2010 là 27,2 tỷ USD trung bình năm là 5,45 tỷ USD.

(Theo Thời báo Kinh tế Việt Nam số 237 ngày 29/11/2005)

 

(3273 Lượt xem)

CÁC TIN BÀI KHÁC:
Ngôn ngữ Ngôn ngữ
English (United States) Tiếng Việt (Việt Nam)
Hoạt động nghiên cứu khoa học Hoạt động nghiên cứu khoa học
Tin hoạt động khoa học tháng 03 năm 2019 (8/4/2019)

Tin hoạt động khoa học tháng 02 năm 2019 (11/3/2019)

Tin hoạt động khoa học tháng 01 năm 2019 (21/2/2019)


Số lượt truy cập Số lượt truy cập
19623877