KINH TẾ VĨ MÔ - KINH TẾ NGÀNH KINH TẾ VĨ MÔ - KINH TẾ NGÀNH
Tăng trưởng và kiểm soát lạm phát

Theo dự báo của các chuyên gia kinh tế, hết tháng 9 này, chỉ số giá tiêu dùng (CPI) của Việt Nam xấp xỉ ở mức 6,5%, vừa đúng chỉ tiêu lạm phát được Quốc hội đề ra cho cả năm nay. Năm 2004, CPI cũng đã lên đến mức 9,5% so với chỉ tiêu Quốc hội đưa ra là 5%. Vì thế hội thảo “Kiểm soát lạm phát trong điều kiện mặt bằng mới giá thế giới” do Viện Nghiên cứu khoa học thị trường giá cả tổ chức cuối tuần rồi đã thu hút sự chú ý của nhiều giới.

Theo dự báo của các chuyên gia kinh tế, hết tháng 9 này, chỉ số giá tiêu dùng (CPI) của Việt Nam xấp xỉ ở mức 6,5%, vừa đúng chỉ tiêu lạm phát được Quốc hội đề ra cho cả năm nay. Năm 2004, CPI cũng đã lên đến mức 9,5% so với chỉ tiêu Quốc hội đưa ra là 5%. Vì thế hội thảo “Kiểm soát lạm phát trong điều kiện mặt bằng mới giá thế giới” do Viện Nghiên cứu khoa học thị trường giá cả tổ chức cuối tuần rồi đã thu hút sự chú ý của nhiều giới.

Đâu là chỉ số lạm phát thực?

Theo ông Võ Trí Thành, Trưởng ban Nghiên cứu chính sách hội nhập thuộc Viện Nghiên cứu quản lý kinh tế trung ương, giá cả thị trường thế giới đã tăng nhiều trong thời gian qua và hiện nay vẫn tiếp tục tăng. Phân tích kỹ hơn vào từng ngành hàng cho thấy mức tăng giá là không đồng đều, nhiều mặt hàng có mức tăng cao, trong đó đáng kể là dầu thô và các sản phẩm từ dầu; nhưng ngược lại cũng có nhiều mặt hàng giảm giá như sản phẩm và dịch vụ viễn thông, công nghệ thông tin… Sự tăng giá của nhiều sản phẩm đóng vai trò là đầu vào quan trọng của nhiều ngành kinh tế khiến tốc độ tăng trưởng kinh tế của nhiều quốc gia bị ảnh hưởng mạnh, chỉ số giá cả có xu hướng tăng. Mỗi năm thị trường thế giới nói chung hình thành một mặt bằng giá mới.

Nền kinh tế Việt Nam cũng bị những tác động tương tự - mức tăng CPI thậm chí còn cao hơn nhiều nước khác trong khu vực. Tuy nhiên, ông Thành cho rằng cần phải xem xét kỹ hơn về thực chất CPI của Việt Nam hiện nay vì cách xây dựng chỉ số này có nhiều vấn đề khiến nó có thể không phản ánh đúng thực chất chỉ số giá nền kinh tế.

Đồng tình với quan điểm này, ông Nguyễn Đại Lai, Phó vụ trưởng Vụ Chiến lược phát triển ngân hàng, Ngân hàng Nhà nước, đưa dẫn chứng là CPI hiện chỉ được tính dựa trên 384 mặt hàng tiêu dùng thiết yếu. Rất nhiều các mặt hàng quan trọng khác chưa được đưa vào rổ hàng hóa này như vàng, bất động sản, các loại giấy tờ có giá… là những loại hàng hóa đang rất thông dụng và có giao dịch ngày càng tăng trên thị trường.

Tham luận gửi đến hội thảo của ông Nguyễn Văn Lịch, Viện trưởng Viện Nghiên cứu thương mại, cũng khẳng định điều này. Phân tích của ông Lịch cho thấy: cơ cấu của rổ hàng hóa để tính CPI có tới 47,8% các mặt hàng lương thực-thực phẩm; và công thức tính CPI sử dụng quyền số cố định không còn phù hợp với tính chất của một nền kinh tế mở. Một số nguyên nhân khác cũng góp phần đẩy giá lên như chính sách tiền lương mới, xuất khẩu tăng, cung ứng tiền và tín dụng nhiều để đảm bảo mức tăng trưởng… Ông cho rằng: “CPI của Việt Nam có thể được xem là không phản ánh đúng tình trạng lạm phát của nền kinh tế”.

Vì tăng trưởng hay vì chỉ tiêu?

Tuy vậy, các chuyên gia tại hội thảo đều bày tỏ mối lo ngại về tình hình giá vẫn có xu hướng tăng trong thời gian tới, đặc biệt giá năng lượng trên thế giới vẫn diễn biến phức tạp. Bài toán lớn hiện nay là phải kiềm chế lạm phát thế nào để đạt được mức tăng trưởng ổn định trong dài hạn chứ không phải là “cố đạt được mục tiêu đề ra”.

Bà Nguyễn Thị Thu, Trưởng phòng Phân tích kinh tế, Vụ Chính sách tiền tệ Ngân hàng Nhà nước, cho biết để kiềm chế lạm phát, chính sách tiền tệ-lãi suất phải được thắt chặt, nhưng điều này sẽ khiến khu vực kinh tế tư nhân khó phát triển và ngược lại thúc đẩy khu vực kinh tế nhà nước phình to ra. Nhưng nếu vì mục tiêu tăng trưởng mà Nhà nước tăng đầu tư từ ngân sách dễ dẫn đến mất cân đối vĩ mô, nợ xấu, thâm hụt ngân sách tăng và hàng loạt các hệ quả có thể khiến lạm phát gia tăng. Đây là một vòng luẩn quẩn giữa tăng trưởng và lạm phát mà trong đó vai trò của chính sách tiền tệ quốc gia là rất quan trọng. Bà Thu cho rằng giữa kiềm chế lạm phát và tăng trưởng, Chính phủ phải lựa chọn mục tiêu ưu tiên, lúc đó mới có biện pháp điều hành phù hợp.

Cũng nhìn từ góc độ vai trò của Ngân hàng Nhà nước, ông Nguyễn Đại Lai cho rằng với hiện trạng có tới 34% tổng lượng vốn đầu tư toàn xã hội được đầu tư hàng năm (từ kho bạc và một số đơn vị không phải ngân hàng) không thuộc tầm kiểm soát của Thống đốc Ngân hàng Nhà nước, chắc chắn quyền hạn và sự độc lập của cơ quan này trong vai trò can thiệp và kiểm soát thị trường tài chính tiền tệ là có khó khăn.

Ông Nguyễn Đình Thiên, Trưởng ban Kinh tế vĩ mô, Viện Kinh tế Việt Nam, đưa ra dự báo ba tình huống kinh tế của Việt Nam sắp tới. Thứ nhất là cân bằng giá của Việt Nam sẽ bị đẩy lên do nhiều áp lực như giá đầu vào cơ bản trên thế giới tiếp tục tăng, kinh tế thế giới giảm tốc độ tăng trưởng khiến thị trường khó khăn, mất cân bằng giá trong nước vì áp lực của giá xăng dầu tăng, lãi suất tăng và nhập siêu tăng trong khi xuất khẩu bị bất lợi vì tỷ giá hối đoái cơ bản bị đóng băng.

Thứ hai là vì kế hoạch tăng trưởng, có thể các hoạt động đầu tư từ khu vực nhà nước sẽ tăng lên dẫn đến tăng tiền cung ứng, tăng nợ xấu… Và tình huống thứ ba, theo ông Thiên, là nếu Nhà nước tiếp tục bù lỗ xăng dầu trong năm nay có thể tới gần 20.000 tỉ đồng, nền kinh tế sẽ tiếp tục chịu những thiệt hại lớn, kích thích nhiều hiện tượng xấu như buôn lậu, và nguy cơ bất ổn nền kinh tế trong dài hạn.

Ông Thiên kiến nghị: có thể  tính đến mức lạm phát 10% để xử lý cân bằng giá. Từ đó có thể giảm độ nén giá đang rất căng thẳng hiện nay và nhân đà lạm phát này thúc đẩy tiết kiệm chi tiêu, cải tiến kỹ thuật và tăng hiệu quả đầu tư, sản xuất. Song song đó, trong dài hạn, Chính phủ linh hoạt hơn đối với tỷ giá hối đoái vì xu hướng nhập siêu tăng mạnh trong thời gian gần đây một phần quan trọng là do mức tỷ giá quá cứng - hệ quả của chủ trương ổn định tỷ giá.

 Cao Cương

Trích Thời báo Kinh tế Sài Gòn Tháng 09/2005

(3029 Lượt xem)

CÁC TIN BÀI KHÁC:
Ngôn ngữ Ngôn ngữ
English (United States) Tiếng Việt (Việt Nam)
Hoạt động nghiên cứu khoa học Hoạt động nghiên cứu khoa học
Tin hoạt động khoa học tháng 03 năm 2019 (8/4/2019)

Tin hoạt động khoa học tháng 02 năm 2019 (11/3/2019)

Tin hoạt động khoa học tháng 01 năm 2019 (21/2/2019)


Số lượt truy cập Số lượt truy cập
19623874