KINH TẾ VĨ MÔ - KINH TẾ NGÀNH KINH TẾ VĨ MÔ - KINH TẾ NGÀNH
Tọa độ kinh tế Việt Nam hiện nay (phần 1)

Kể từ khi tiến hành công cuộc đổi mới và mở cửa, nền kinh tế Việt Nam đã đạt tốc độ tăng trưởng khá cao (bình quân 7,3%/năm trong thời gian 1990-2003), đánh dấu một bước ngoặt rất quan trọng trong lịch sử phát triển kinh tế hiện đại của mình. Mức tăng trưởng kinh tế cao đã tạo điều kiện cải thiện đáng kể mức sống của nhân dân, đóng góp một phần vào sự tăng trưởng kinh tế năng động của khu vực Đông và Đông Nam Á, mở ra khả năng tiến cùng thời đại, và đặc biệt là tạo ra thế và lực mới để rút ngắn quá trình CNH, HĐH đất nước. Tuy điểm xuất phát vẫn còn rất thấp, nhưng những thành quả thu được đã khích lệ rất nhiều trên con đường tiếp tục các chính sách đổi mới kinh tế theo hướng thị trường và hội nhập. Bài viết này sẽ bắt đầu từ việt thảo luận về toạ độ kinh tế Việt Nam hiện nay, và sau đó xem xét những đặc điểm đặc trưng mới nhát của quá trình toàn cầu hóa đang diễn ra cùng những cơ hội cho việc thực hiện CNH rút ngắn ở Việt Nam trong những năm đầu thế kỷ XXI.

1. Trình độ phát triển kinh tế- xã hội

a) Về trình độ phát triển kinh tế thu nhập

Theo chỉ tiêu GDP bình quân đầu người, năm 2001 Việt Nam mới đạt 415 USD (giá hiện hành), bằng 1/86 của Mỹ, l/80 của Nhật Bản, l/50 của Singapore, 1/30 của Đài Loan, 1/21 của Hàn Quốc, 1/9 của Malaysia, 1/4,5 của Thái Lan, l/2 của Trung Quốc và bằng khoảng l/3 mức của các nước đang phát triển nói chung. Nếu tính GDP/người theo sức mua tương đương cùng năm 2001, Việt Nam đạt mức 1.996 USD, bằng 1/17 của Mỹ, 1/13 của Nhật Bản, 1/12 của Singapore, l/9 của Hàn Quốc, l/4,5 của Malaysia, 1/3 của Thái Lan và 1/2 của Trung Quốc (bảng 1).

Trình độ phát triển kinh tế nêu trên quyết định mức thu nhập, cũng có nghĩa giá nhân công ở Việt Nam hiện còn rất thấp. Theo số liệu của Tổng cục Thống kê, với mức thu nhập bình quân 1 lao động của khu vực nhà nước (trong tất cả các ngành kinh tế, năm 2001) chừng 1.000.000 đồng/tháng, chúng tôi ước tính tương đương với khoảng 0,4 USD/giờ, một mức thấp so với thế giới và khu vực.

Bảng 1: So sánh GDP/người giữa Việt Nam và các nước

(giá thực tế, năm 2001, USD)

 

GDP/người

GDP/người theo PPP

Giá trị

So sánh

Giá trị

So sánh

Việt Nam

Mỹ

Nhật Bản*

Singapo

Đài Loan

Hàn Quốc

Malaysia

Thái Lan

Philippin

Trung Quốc

Inđônêxia

415,5

35819,5

33400,4

20378,0

12593,0

8860,8

3678,8

1874,0

927,6

911,2

680,2

1

86

80

50

30

21

9

4,5

2

2

1,6

1996

34142

26755

23356

-

17380

9068

6402

3971

3976

3043

1

17

13

12

-

9

4,5

3

2

2

1,5

* Số liệu của Nhật Bản là năm 1999.

Nguồn: Theo Niên giám thống kê 2002. Nxb Thống kê, H.2003; tr.576-583 và 584-590.

b) Về cơ cấu kinh tế

Ở thời điểm hiện tại, khi mà các nước công nghiệp phát triển đã chuyển sang giai đoạn khu vực dịch vụ chiếm phần lớn nhất trong cơ cấu kinh tế quốc gia và đóng góp phần lớn nhất cho mức tăng trưởng GDP hàng năm, thì cơ cấu kinh tế ngành của Việt Nam vẫn chủ yếu phản ánh tình trạng của một nền kinh tế kém phát triển. Đối với các nước OECD, từ hàng thập kỷ qua, tỷ phần của khu vực dịch vụ đã lớn hơn của cả hai khu vực nông nghiệp và công nghiệp cộng lại. Nhiều nước đang phát triển xung quanh, khu vực nông nghiệp cũng đã giảm xuống chỉ còn chừng trên dưới 10% tổng GDP (bảng 2).

Bảng 2: Cơ cấu GDP theo ngành kinh tế của một số nước (%)

TT

Nước

Nông nghiệp

Công nghiệp

Dịch vụ

1

2

3

4

5

6

7

8

Việt Nam (2003)

Nhật Bản (1999)

Đài Loan (2000)

Hàn Quốc (2001)

Malaysia (2001)

Thái Lan (2001)

Philippin (2001)

Trung Quốc (2001)

21,8

1,0

1,9

4,0

8,0

10,0

15,0

15,0

40,0

32,1

30,9

41,4

49,6

40,0

31,2

52,2

38,2

66,4

67,2

54,1

41,9

49,8

53,6

32,9

Nguồn:    + Việt Nam; Tổng cục Thống kê, Tình hình kinh tế-xã hội năm 2003. H.12-2003; tr.3.

                  + Các nước khác; Tổng cụa Thống kê, Số liệu kinh tế-xã hội các nước, vùng lãnh thổ trên thế giới. Nxb Thống kê, H.12-2002; tr55-84.

Mức độ lạc hậu về cơ cấu còn thể hiện rất rõ qua cơ cấu lao động khi so sánh với một số nước trong vùng có cùng điểm xuất phát từ một nước nông nghiệp khi bắt đầu tiến hành CNH. Nếu coi mức độ giảm bớt tỷ trọng lao động nông nghiệp như là một trong những chỉ số căn bản quan trọng phản ánh mức độ tiến triển của CNH, thì Việt Nam hiện tại còn thua kém các nước mới công nghiệp hóa Đông Á ở thời điểm hơn 50 năm về trước (bảng 3). Tình trạng cơ cấu này cho phép tiếp tục có sự chuyển dịch lớn nguồn lao động từ khu vực nông nghiệp (và dịch vụ chất lượng thấp) sang khu vực công nghiệp và dịch vụ có giá trị gia tăng cao.

Bảng 3: Cơ cấu lao động theo ngành kinh tế của một số nước (%)

TT

Nước

Nông nghiệp

Công nghiệp

Dịch vụ

1

2

3

4

Việt Nam (2001)

Nhật Bản (1950)

Đài Loan (1950)

Hàn Quốc (1950)

67,2

45,2

56,0

57,2

12,5

26,6

20,8

18,0

20,3

28,2

23,3

24,8

Nguồn: + Việt Nam; Theo Niên Giám thống kê 2002. Nxb Thống kê, 2003; tr.41.

             + Các nước khác; theo Harry T. Oshima; Tăng trưởng kinh tế ở châu Á gió mùa. UBKHXHVN- Viện châu Á và TBD, H.1989;TI; tr157.

Thế nhưng trên thực tế, việc di chuyển lao động từ khu vực công nghiệp và dịch vụ có năng suất lao động cao hơn hiện vẫn diễn ra rất chậm, do không chỉ sức hút của khu vực hiện đại yếu, mà tình trạng thất nghiệp cao (trên 6% ở khu vực đô thị và khu vực nông thôn mới sử dụng 75% thời gian làm việc) đang là một cản trở không nhỏ. Trong khi đó, cơ cấu đầu tư lại có phần chệch hướng sang phía những ngành thâm dụng vốn hơn là những ngành thâm dụng lao động, nhất là với khu vực các DNNN. Thật vậy, thời gian qua, mặc dù tỷ lệ đầu tư/GDP có xu hướng tăng lên, nhưng tốc độ gia tăng của chỉ số ICOR cũng tăng cao (bảng 4), trong khi tốc độ đổi mới công nghệ vẫn còn chậm, khiến cho khả năng di chuyển lao động từ khu vực nông nghiệp sang công nghiệp và dịch vụ càng khó khăn hơn.

Bảng 4: Tỷ lệ đầu tư và ICOR

 

1995

1996

1997

1998

1999

2000

2001

Tỷ lệ đầu tư/GDP(%)

ICOR

31,7

3,3

31,2

3,4

34,6

4,2

32,4

5,6

32,8

6,9

33,2

4,9

33,7

5,0

Nguồn: Nguyễn Quang Thái - Đầu tư và hiệu quả đầu tư những năm 1995-2001. tạp chí Nghiên cứu kinh tế, số 3-2002; tr.5.

c) Tình trạng đói nghèo và độ chênh lệch thu nhập

Trên cơ sở kinh tế tăng trưởng nhanh, mức độ nghèo đói của dân cư cũng giảm nhanh. Theo tiêu chuẩn quốc tế, tỷ lệ nghèo đói của Việt Nam đã giảm từ mức 58,l% năm 1993 xuống còn 37,4% năm 1998 (giảm bình quân 4,14%/năm), và giảm còn 28,9% năm 2002 (giảm bình quân 2,1%/năm) (xem bảng 5). Tốc độ giảm nghèo như trên được thế giới xem 1à một ví dụ thành công đáng khâm phục của chính sách. chống đói nghèo quốc gia. Tuy vậy, với tỷ lệ nghèo đói là 29% (2002), Việt Nam vẫn còn là một trong những nước có mức nghèo đói cao. Trong khi đó, tốc độ giảm nghèo của giai đoạn 1998-2002 đã giảm đi một nửa so với giai đoạn 1993- 1998, cho thấy cuộc chiến chống đói nghèo đã gặp phải những giới hạn, khiến cho mức độ bền vững của thành tích giảm đói nghèo chưa cao.

Bảng 5: Tình trạng đói nghèo* ở Việt Nam

 

1993

1998

2002

Toàn quốc

Vùng núi phía Bắc

Đồng bằng sông Hồng

Duyên hải Bắc Trung Bộ

Duyên hải Nam Trung Bộ

Tây Nguyên

Đông Nam Bộ

Đồng bằng sông Cửu Long

58,1

81,5

62,7

74,5

47,2

70,0

37,0

47,1

37,4

64,2

29,3

48,1

34,5

52,4

12,2

36,9

28,9

43,9

22,4

43,9

25,2

51,8

10,6

23,4

* Tỷ lệ nghèo đói được đo bằng % so với dân số

Nguồn: Vietnam Development Report 2004: Poverty. Joint Donor Report to the Vietnam Consultative Group Meeting, Hanoi, December 2-3, 2003; p.10.

Có lẽ, một trong những nguyên nhân của sự kém bền  vững của thành tích giảm nghèo là mức độ chênh lệch về thu nhập đã gia tăng đồng thời với quá trình giảm nghèo. Cũng trong khoảng thời gian từ 1993 đến 2002, chỉ có 1/5 số người giàu nhất có tỷ lệ thu nhập tăng lên, còn tất cả các nhóm khác đều được chia sẻ ít hơn thành quả của tăng trưởng. Thậm chí nhóm 1/5 số người nghèo nhất, mức độ giảm phần được chia sẻ còn gia tăng, giai đoạn sau giảm nhiều hơn giai đoạn trước. Hơn nữa, mức chênh lệch giữa 2 nhóm giàu nhất và nghèo nhất đã doãng ra xa hơn, từ mức gần 5 lần năm 1993 lên đến 5,5 lần năm 1998, rồi hơn 6 lần năm 2002 (bảng 6).

Bảng 6: Cơ cấu thu nhập theo nhóm dân cư*

 

1993

1998

2002

1/5 nghèo nhất

1/5 nghèo

1/5 trung bình

1/5 khá

1/5 giàu nhất

Tổng số

Chênh lệch giữa nhóm giàu nhất và nghèo nhất

8,4

12,3

16,0

21,5

41,8

100,0

4,97

8,2

11,9

15,5

21,2

43,3

100,0

5,49

7,8

11,2

14,6

20,6

45,9

100,0

6,03

* Cơ cấu thu nhập của mỗi nhóm 20% dân cư trên tổng số,được tính theo phương pháp tính tỷ phần chi tiêu của họ (expenditure method).

Nguồn: Vietnam Development Report 2004: Poverty. Joint Donor Report to the Vietnam Consultative Group Meeting, Hanoi, December 2-3, 2003; p.13.

Tỷ lệ 20% số người giàu nhất chiếm đến 45,9% tổng số chi tiêu là một tỷ lệ thuộc vào loại cao trên thế giới và đi ngược lại quan điểm ''Đảm bảo công bằng xã hội ngay từ đầu quá trình phát triển''. Bảng 7 cho thấy sơ lược bức tranh phân phối thu nhập của các nhóm dân cư của một số nước khi so với Việt Nam. Điều đáng ngạc nhiên là Việt Nam và Trung Quốc lại là 2 nước nằm trong tốp có mức bất bình đẳng cao nhất.

Bảng 7: Tỷ lệ thu nhập của các nhóm dân cư của một số nước

Nước

20%thấpnhất

20% thứ 2

20% thứ 3

20%thứ 4

20%cao nhất

Việt Nam (2002)

Trung Quốc (1995)

7,8

5,5

11,2

9,8

14,6

14,9

20,6

22,3

45,9

47,5

Nhóm nước công nghiệp phát triển

Mỹ (1994)

Anh (1986)

Đức (1989)

Pháp (1989)

Thụy Điển (1992)

Canađa (1994)

Úc (1989)

4,8

7,1

9,0

7,2

9,6

7,5

7,0

10,5

12,8

13,5

12,7

14,5

12,9

12,2

16,0

17,2

17,5

17,1

18,1

17,2

16,6

23,5

23,1

22,9

22,8

23,2

23,0

23,3

45,2

39,8

37,1

40,1

34,5

39,3

40,9

Các nước đang phát triển

Ấn Độ (1994)

Angiêri (1995)

Inđônêxia (1995)

Mêhicô (1992)

9,2

7,0

8,4

6,9

13,0

11,6

12,0

11,9

16,8

16,1

15,5

16,7

21,7

22,7

21,0

23,1

39,3

42,6

43,1

41,5

Các nền kinh tế đang chuyển đổi

Nga (1993)

Ba Lan (1992)

Séc (1992)

Bêlarut (1993)

Rumani (1992)

Latvia (1993)

7,4

9,3

11,9

11,1

9,2

9,6

12,6

13,8

15,8

15,3

14,4

13,6

17,7

17,7

18,8

18,5

18,4

17,5

24,2

22,6

22,2

22,2

23,2

22,6

38,2

36,6

31,4

32,9

34,8

36,7

Nguồn: Lưu Lực : Toàn cầu hóa kinh tế- lối thoát của Trung Quốc là ở đâu. Nxb KHXH, H.2002; tr.472-474.

(7734 Lượt xem)

CÁC TIN BÀI KHÁC:
Ngôn ngữ Ngôn ngữ
English (United States) Tiếng Việt (Việt Nam)
Hoạt động nghiên cứu khoa học Hoạt động nghiên cứu khoa học
Tin hoạt động khoa học tháng 08 năm 2018 (11/9/2018)

Tin hoạt động khoa học tháng 07 năm 2018 (13/8/2018)

Tin hoạt động khoa học tháng 06 năm 2018 (9/7/2018)


Số lượt truy cập Số lượt truy cập
18447103