KINH TẾ VĨ MÔ - KINH TẾ NGÀNH KINH TẾ VĨ MÔ - KINH TẾ NGÀNH
Quan điểm toàn diện hơn về cơ cấu ngành kinh tế trong công nghiệp hoá

Khắc phục nguy cơ tụt hậu chỉ có thể tiến hành bằng cách tiến hành công nghiệp hóa, tăng trưởng nhanh giá trị gia tăng công nghiệp và dịch vụ, tạo ra sự chuyển dịch cơ cấu kinh tế ngành, làm cho phong cách “sản xuất công nghiệp” trở thành phổ biến trong nền kinh tế. Hiện nay đất nước ta có quy mô tổng sản phẩm quốc nội GDP năm 2003 theo tỷ giá chính thức tương đương khoảng gần 40 tỷ USD, nhưng mức GDP bình quân đầu người còn thấp, chỉ tương đương chưa tới 500USD/người7, thấp hơn nhiều so với GDP bình quân 2 năm trước của các nước ASEAN là hơn 1.100USD/ người, riêng Thái Lan là hơn 2000USD/người, Malaysia là hơn 4.000USD/người, v.v… Như vậy, nguy cơ tụt hậu xa hơn về kinh tế được chúng ta nói tới nhiều từ 10 năm trước8, đến nay vẫn còn rất lớn.

Để khắc phục nguy cơ này, con đường duy nhất là phải tăng trưởng kinh tế nhanh và bền vững. Chúng ta đã duy trì mức độ tăng trưởng cao nhất có thể đối với khu vực nông, lâm, ngư nghiệp và kinh tế nông thôn, nơi có 75% dân số sinh sống và 60% lao động đang làm việc, bảo đảm an ninh lương thực, nhưng tốc độ bình quân trong dài hạn chỉ có thể đạt trên dưới 5%/năm như những năm qua do có những hạn chế về giới hạn sinh học. Vậy con đường tăng trưởng nhanh còn phải dựa vào các ngành công nghiệp và dịch vụ, các ngành có điều kiện đạt mức tăng trưởng nhanh không chỉ do tăng các yếu tố đầu vào mà là ứng dụng khoa học công nghệ, có thể đạt mức tăng trưởng hai chữ số.

Tuy nhiên, trong quan niệm trước đây, tương ứng với sơ đồ giả định nền kinh tế “không có ngoại thương”, chúng ta cho rằng trong quá trình phát triển công nghiệp, cần ưu tiên phát triển các ngành công nghiệp nặng (trước hết là sắt thép, xi măng, nguyên liệu cơ bản, điện, hóa chất, công nghiệp cơ khí v.v…), bảo đảm chủ động các nguồn nguyên liệu cơ bản. Tư duy này có thể đúng trong điều kiện bị bao vây kinh tế, nhưng lại duy trì cả trong điều kiện hội nhập kinh tế nên đã dẫn tới phát triển công nghiệp nặng không hiệu quả, do không gắn ngay từ đầu với phát triển công nghiệp nhẹ, với khu vực dịch vụ và nông nghiệp, và nhất là không cân nhắc đầy đủ các lợi thế so sánh trên bình diện thị trường rộng lớn hơn từng quốc gia riêng lẻ trong điều kiện hội nhập kinh tế đang đi vào chiều sâu.

Trong quá trình đổi mới, chúng ta từng bước chuyển đổi tư duy hướng vào phát triển các ngành kinh tế gắn bó với thị trường, góp phần nâng hiệu quả và sức cạnh tranh. Như vậy, đến lượt nó, chúng ta phải lựa chọn những ngành hàng nào, những sản phẩm và dịch vụ nào có thể phát huy các lợi thế so sánh của đất nước, nhờ đó tạo ra mức đột phá trong tốc độ phát triển9 để lôi kéo các ngành kinh tế, vùng kinh tế khác cùng phát triển. Đó là cơ sở để đưa nền kinh tế tăng trưởng nhanh, đạt quy mô đủ lớn thích ứng của nền kinh tế công nghiệp hóa, trong đó tỷ trọng của ngành nông nghiệp từng bước hạ thấp trên cơ sở sự chuyển dịch cơ cấu ngành kinh tế có hiệu quả10. Như vậy, ngay tại nông thôn, cần chuyển đổi từ kinh tế thuần nông sang phát triển các ngành nghề, trong khi bản thân nông nghiệp vẫn được phát triển đa dạng hơn, bảo đảm an ninh lương thực và gắn kết với việc cung ứng nguyên liệu cho công nghiệp chế biến và cho xuất khẩu. Đây là các tư duy được hình thành ngày càng rõ từ thực tế của công cuộc công nghiệp hóa đất nước.

Liên quan đến cơ cấu ngành, trong một thời gian dài, nhiều người còn coi “khu vực dịch vụ” như là khu vực “ăn theo”, chỉ làm nhiệm vụ “phân phối lại” nên coi nhẹ trong chính sách phát triển. Gần đây tuy đã có chuyển biến nhiều trong nhận thức11 nhưng lại thiếu giải pháp cụ thể để phát triển các dịch vụ cao cấp, dịch vụ thu nhiều giá trị gia tăng như: viễn thông, tài chính, ngân hàng, bảo hiểm, tư vấn, khoa học công nghệ… Đó cũng là bài học cần rút kinh nghiệm. Do thiếu các giải pháp tốt trong phát triển kinh tế mấy năm gần đây, nhất là thiếu giải pháp phát triển các ngành dịch vụ, tỷ trọng của khu vực dịch vụ đang bị hạ thấp đi do tốc độ tăng trưởng khu vực này thấp hơn tốc độ tăng trưởng khu vực này thấp hơn tốc độ tăng trưởng kinh tế nói chung. Cuối cùng là làm cho chi phí sản xuất các ngành khác tăng lên, làm giảm hiệu quả phát triển kinh tế nói chung.

(7)   Theo Báo cáo Phát triển thế giới năm 2004 của Ngân hàng Thế giới, mức thu nhập quốc dân bình quân đầu người chung của thế giới năm 2002 là 5080 USD, trong khi mức thu nhập bình quân đầu người của Việt Nam chỉ là 430 USD, thấp hơn 12 lần và bằng 50% mức bình quân của khu vực Đông Á và Thái Bình Dương .. Với mức thu nhập bình quân đầu người dưới 745 USD được coi là nước có thu nhập thấp, thu nhập bình quân của các nước này năm 2002 là 430 USD, tương đương mức của Việt Nam. Như vậy, thu nhập của Việt Nam còn rất khiêm tốn. Ngay cả khi so sánh theo sức mua tương đương (PPP), thu nhập bình quân đầu người năm 2002 của Việt Nam mới đạt 2240 USD trong khi mức bình quân chung của thế giới là 7570 USD, gấp hơn 3 lần.

(8)   Theo Nghị quyết tại Hội nghị giữa nhiệm kỳ 1994 của Đại hội lần thứ VII của Đảng.

(9)   Tốc độ tăng trưởng nhanh và quy mô lớn không phải tính theo tổng sản lượng (gross output), mà theo giá trị gia tăng (value added mới được sáng tạo ra (tổng sản lượng sau khi đã trừ đi tiêu hao vật tư).

(10) Theo kinh nghiệm các nước, có hai chỉ tiêu gắn liền nhau về quy mô và cơ cấu là thu nhập bình quân đầu người theo sức mua tương đương PPP cần đạt đến 7.000-10.000 USD và tỷ trọng nông nghiệp chỉ khoảng dưới 10%. Đó là mức của Malaysia hiện nay và của Hàn Quốc những năm 1990 để có thể gia nhập OECD. Với quan niệm đó, kinh tế nước ta cần ít nhất đạt mục tiêu về thu nhập bình quân đầu người ngang mức của Malaysia (8280 USD), gấp rưỡi mức của Thái Lan (6680 USD) và gấp 2 lần mức của Trung Quốc (4390 USD) năm 2002.

(11)  Theo hạch toán tài khoản quốc gia, nền kinh tế bao gồm các ngành sản xuất vật chất (nông nghiệp, công nghiệp) và các ngành sản xuất dịch vụ.

 

PGS.TSKH Nguyễn Quang Thái

Hội Khoa học Kinh tế Việt Nam

       Nguồn : Nghiên cứu kinh tế số 312 – Tháng 5/2004

(3885 Lượt xem)

CÁC TIN BÀI KHÁC:
Ngôn ngữ Ngôn ngữ
English (United States) Tiếng Việt (Việt Nam)
Hoạt động nghiên cứu khoa học Hoạt động nghiên cứu khoa học
Tin hoạt động khoa học tháng 11 năm 2018 (12/12/2018)

Tin hoạt động khoa học tháng 10 năm 2018 (8/11/2018)

Tin hoạt động khoa học tháng 08 năm 2018 (11/9/2018)


Số lượt truy cập Số lượt truy cập
19060974