KINH TẾ VĨ MÔ - KINH TẾ NGÀNH KINH TẾ VĨ MÔ - KINH TẾ NGÀNH
Tình hình kinh tế - xã hội tháng Ba và quý I năm 2003

Sản xuất công nghiệp

Giá trị sản xuất công nghiệp tháng 3 ước tăng 13,7% so với tháng trước và tăng 15,6% so với cùng kỳ năm 2002. Tính chung quý I/2003, giá trị sản xuất công nghiệp tăng 15,1%, cao hơn 1,3% so với cùng kỳ năm 2002.

Trong quý I/2003, nhiều sản phẩm công nghiệp chủ yếu tiếp tục đạt mức tăng cao và tiêu thụ tốt so với cùng kỳ năm ngoái như thép cán tăng 29,6%, gạch lát 21,3%, sứ vệ sinh 38,3%, giấy bìa các loại 15,5%, thuỷ sản chế biến 22,1%, bột ngọt 26,5%, đường mật các loại 25,3%, sữa hộp 15,3%, quần áo dệt kim 29%, quần áo may sẵn 61,4%, động cơ điện 38,2%, động cơ diezen 209%, tivi các loại 30%, quạt điện dân dụng 31,7%, ôtô các loại 47%, xe máy các loại 16,9%, ắc quy 31,6%. Riêng dầu thô khai thác sau thời kỳ sụt giảm nay đã có tăng trưởng khá 9,5%.

Tuy nhiên, sản xuất công nghiệp trong quý I nổi lên một số vấn đề như: giá nhật khẩu xăng, dầu và khí đốt hoá lỏng, phôi thép, nguyên liệu sản xuất thuộc... đều tăng, ảnh hưởng tiêu cực đến sản xuất, và tiêu dùng trong nước; do chiến tranh Mỹ xâm lược Irắc cũng có thể làm giảm sức mua của một số thị trường xuất khẩu chủ lực và làm kim ngạch xuất khẩu một số sản phẩm có thể gặp khó khăn (da, giày, may mặc...).

Sản xuất nông nghiệp

Giá trị sản xuất toàn ngành nông, lâm, ngư nghiệp quý I/2003 tăng 1,7% so với cùng kỳ năm 2002, trong đó, nông nghiệp tăng 0,9%, thuỷ sản tăng 5,4%, lâm nghiệp tăng 1,8%.

Tính đến ngày 15/3, cả nước đã gieo cấy xong lúa Đông Xuân với diệnt ích 2.977 nghìn ha, xấp xỉ diện tích cùng kỳ năm trước; trong đó các tỉnh miền Bắc đã gieo cấy 1.137 nghìn ha, tăng 1,5%; các tỉnh phía Nam đã kết thúc việc gieo cấy, đạt 1.840 nghìn ha (riêng đồng bằng sông Cửu Long 1.496 nghìn ha), giảm khoảng 17,6 nghìn ha do chuyển đổi cơ cấu cây trồng. Đến ngày 15/3, vùng đồng bằng sông Cửu Long đã thu hoạch được 871 nghìn ha lúa đông xuân, bằng 58% diện tích gieo cấy.

TRồng rừng tập trung quý I/2003 ước đạt 55,3 nghìn ha, bằng 97,4% so với cùng kỳ năm trước.

Ngành thuỷ sản vẫn giữ được tốc độ tăng trưởng khá. Tổng sản lượng thuỷ sản quý I ước đạt trên 661 nghìn tấn, tăng 4,4% so với cùng kỳ năm trước;

Đến nay đã có 17 trong tổng số 19 tỉnh, thành phố có đê từ Hà Tĩnh trở ra đã triển khai công tác tu bổ đê kè hàng năm, đã đào đắp gần 452 nghìn m3 đất, đạt trên 24% kế hoạch, xây lát 54 nghìn m3 đá kè, đạt 38% kế hoạch.

Đáng chú ý là, do hạn hán, nạn cháy rừng đã xẩy ra ở nhiều nơi, sơ bộ ước tính từ đầu năm đến 17/3 đã xẩy ra 175 vụ cháy rừng, với diện tích bị cháy hơn 1.075 ha và do chiến tranh Mỹ - Irắc, nên một số sản phẩm nông nghiệp của nước ta xuất sang Irắc gặp khó khăn như gạo, chè, sữa....

Các hoạt động dịch vụ

Thị trường trong nước quý I diễn ra sôi động hơn mọi năm, tổng mức lưu chuyển hàng hoá và doanh thu dịch vụ quý I ước đạt 75.000 tỷ đồng, tăng 12% so với cùng kỳ năm 2002.

Vận tải hàng hoá quý I tăng 4,4% so với cùng kỳ về tấn vận chuyển và tăng khoảng 2% về tấn luân chuyển. Vận tải hành khách tăng 4,6% so với cùng kỳ về hành khách vận chuyển và tăng 9,1% về hành khách luân chuyển.

Hoạt động du lịch tiếp tục phát triển, trong quý I ước đón được 71 vạn lượt khách quốc tế; khách du lịch nội địa ước đạt trên 3,5 triệu lượt người. Doanh thu xã hội từ du lịch quý I đạt 25,2% kế hoạch và tăng 7,3% so với cùng kỳ năm 2002; trong đó ngoại tệ tăng 16,6%.

Hoạt động xuất, nhập khẩu

Kim ngạch xuất khẩu tháng 3 ước đạt 1.600 triệu USD, tăng 23,7% so với tháng trước; trong đó xuất khẩu của các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài (không kể dầu thô) đạt 480 triệu USD, tăng gần 46%. Tính chung kim ngạch xuất khẩu quý I đạt 4.665 triệu USD, đạt bình quân hơn 1.555 triệu USD/tháng, bằng 26% kế hoạch năm và tăng 43,1% so với cùng kỳ năm 2002; trong đó các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài (không kể dầu thô) đạt 1.251 triệu USD, tăng 35,1%.

Kim ngạch nhập khẩu tháng 3 ước đạt 1.670 triệu USD, tăng 6,8% so với tháng trước; trong đó nhập khẩu của các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài đạt 570 triệu USD, tăng 9,4% so với tháng 2.

Cả quý I đạt 4.863 triệu USD, bằng 23,2% kế hoạch năm và tăng 26,2% so với cùng kỳ năm trước.

Vốn đầu tư toàn xã hội

Ước thực hiện các nguồn vốn đầu tư phát triển quý I/2003 đạt 19,8% so với dự kiến kế hoạch, tăng 27% so với cùng kỳ năm 2002. Tổng vốn đầu tư xã hội huy động trong quý I bằng 34,7% GDP, là mức đạt khá so với nhiều năm qua.

Việc thu hút vốn ODA có tiến bộ, từ đầu năm tới 18/3/2003 đạt 161,5 triệu USD và vốn viện trợ không hoàn lại đạt 38,8 triệu USD.

Trong 3 tháng đầu năm 2003, ước giải ngân ODA đạt khoảng 275 triệu USD, đạt 16% kế hoạch năm; trong đó vốn vay khoảng 236 triệu USD, vốn viện trợ không hoàn lại khoảng 39 triệu USD.

Vốn đầu tư của khu vực dân cư tăng mạnh, ước thực hiện quý I đạt khoảng 12,7 nghìn tỷ đồng, bằng 21,8% so với dự kiến, tăng 30,2% so với cùng kỳ năm 2002.

Vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài thực hiện tăng khá, đạt khoảng 5.900 tỷ đồng (tương đương 380 triệu USD), tăng 12,4% so với cùng kỳ và bằng 16,4% kế hoạch năm. Tính từ đầu năm đến ngày 18/3/2003, đã có thêm 79 dự án đầu tư nước ngoài được cấp giấy phép, với tổng số vốn đăng ký 178,6 triệu USD.

Thu ngân sách Nhà nước có chuyển biến tích cực, ước quý I đạt 24,6% dự toán năm, tăng 14,4% so với cùng kỳ năm 2002 và bằng 24,8% GDP.

Tổng chi ngân sách Nhà nước quý I/2003 đạt 20,4% dự toán năm và tăng 10,5% so với cùng kỳ năm 2002.

Bội chi ngân sách cả quý I, bằng 6,1% dự toán bội chi ngân sách cả năm và bằng 1,5% GDP (cùng kỳ năm 2002 bội chi bằng 2,4% GDP).

Hoạt động tiền tệ

Tổng phương tiện thanh toán trong 3 tháng đầu năm 2003 tăng 5%, cao hơn tốc độ tăng trưởng của cùng kỳ năm 2002.

Nguồn vốn huy động ước đến cuối tháng 3 tăng 4,2% so với 31/12/2002, cao hơn nhiều so với tốc độ tăng trưởng cùng kỳ năm trước (0,7%); trong đó tiền gửi bằng VNĐ tăng 4,5%, bằng ngoại tệ tăng 3,7%.

Dư nợ cho vay toàn nền kinh tế ước đến 31/3/2003 tăng 5,7% so với 31/12/2002, bằng tốc độ tăng trưởng cùng kỳ năm trước; trong đó cho vay bằng VNĐ tăng 4,5%, cho vay bằng ngoại tệ tăng 9,8%.

Chỉ số giá tiêu dùng tháng 3 có một số biến động, giá cả một số mặt hàng như xăng dầu, thép, xi măng, phân bón, giá cước vận chuyển, giá thuốc chữa bệnh... tăng và giao động ở mức cao nhưng vẫn trong tầm kiểm soát được của Nhà nước. Chỉ  số giá tiêu dùng trong tháng 3 giảm 0,6% so với tháng 2 năm 2003; điều đáng chú ý là giá hàng lương thực, thực phẩm giảm 1,9%, trong khi giá vật liệu xây dựng tăng 1,9%, giá dược phẩm, y tế tăng 8,1%.

Về các hoạt động xã hội

Bộ Giáo dục và Đào tạo quyết định tổ chức thi 3 chung: chung đề, chung đợt (hai đợt cho đại học, một đợt cho cao đẳng) và dùng chung kết quả thi, để tuyển mới khoảng 181 nghìn học sinh đại học, cao đẳng trong năm 2003.

Trong quý I, số lao động được giải quyết việc làm ước khoảng 27 vạn người, bằng 18% kế hoạch và gấp trên 2 lần so với cùng kỳ năm 2002; xuất khẩu lao động trên 1,8 vạn người, bằng 36% kế hoạch năm, chủ yếu sang Malaysia, Đài Loan, Hàn Quốc, Nhật Bản...

Công tác phòng chống dịch bệnh đã được ngành y tế tiếp tục đẩy mạnh, các bệnh dễ gây dịch đều giảm so với năm 2002. Bộ Y tế đã thành lập Ban đặc nhiệm phòng chống dịch, đến nay, về cơ bản đã khống chế và kiểm soát được bệnh viêm đường hô hấp cấp do virus gây ra.

Hoạt động thể dục thể thao diễn ra sôi nổi trong cả nước, các đội tuyển đang tích cực luyện tập, phấn đấu đạt thành tích cao tại SEA GAMES 22. Uỷ ban TDTT đã chỉ đạo các đơn vị trực thuộc, các tiểu ban phục vụ gấp rút hoàn thành kế hoạch tổ chức SEA GAMES 22 để trình Thủ tướng Chính phủ phê duyệt.

Trong các tháng tới cần tập trung triển khai thực hiện các giải pháp hạn chế tối đa ảnh hưởng của chiến tranh Irắc tới sản xuất, kinh doanh và các hoạt động khác của nền kinh tế nước ta; thực hiện các giải pháp đẩy mạnh xuất khẩu; tập trung chỉ đạo công tác đầu tư xây dựng cơ bản, đẩy mạnh tiến độ thi công của các dự án quan trọng có thể hoàn thành trong năm; thực hiện các biện pháp hữu hiệu phòng chống thiên tai, khắc phục hậu quả hạn hán và những khó khăn trong sản xuất nông nghiệp; tăng cường các biện pháp về hành chính và kinh tế để quản lý tốt thị trường, quản lý tốt xã hội.

 

Đ.T.T

Nguồn: Thông tin Khu công nghiệp Việt Nam 4/2003

(2798 Lượt xem)

CÁC TIN BÀI KHÁC:
Ngôn ngữ Ngôn ngữ
English (United States) Tiếng Việt (Việt Nam)
Hoạt động nghiên cứu khoa học Hoạt động nghiên cứu khoa học
Tin hoạt động khoa học tháng 02 năm 2019 (11/3/2019)

Tin hoạt động khoa học tháng 01 năm 2019 (21/2/2019)

Tin hoạt động khoa học tháng 12 năm 2018 (22/1/2019)


Số lượt truy cập Số lượt truy cập
19394374