KINH TẾ VĨ MÔ - KINH TẾ NGÀNH KINH TẾ VĨ MÔ - KINH TẾ NGÀNH
Chuyển dịch cơ cấu vùng kinh tế thời kỳ đổi mới (phần 1)

Một trong những vấn đề cơ cấu quan trọng là cơ cấu vùng lãnh thổ. Điều này, một mặt phụ thuộc vào các nhân tố địa – chính trị, tài nguyên thiên nhiên, … mặt khác còn dựa vào sự tác động chủ quan của con người. Nhận xét chung là đã có sự chuyển biến tốt lên về mọi mặt trên mọi vùng kinh tế của đất nước trong quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa.

Đặc biệt, trong sự chuyển biến của cả nước, cơ cấu kinh tế của các địa phương, các vùng lãnh thổ cũng đã có sự chuyển dịch đáng kể. Đặc biệt các điều kiện về cơ sở hạ tầng đã được cải thiện rất nhiều. Cả nước hiện có trên 200 nghìn km đường bộ, trên 3000 km đường sắt, gần 100 cảng biển, hơn 10 nghìn km đường sông đã được khai thác, 17 cảng hàng không, … được bố trí khắp các vùng với công suất đạt gần 14 triệu khách/năm. Ngành viễn thông có sự chuyển biến vượt bậc, ngành cấp thoát nước với trên 100 dự án ODA đã hoàn thành và 30 dự án trong nước đã bảo đảm cung cấp nước sạch cho gần 50% dân số thành thị. Đó là chưa kể tới mạng lưới hạ tầng xã hội như: trường học, bệnh viện, nhà văn hóa, cung thể thao được bố trí khắp cả nước. Điều này đã tạo điều kiện nâng cao mức sống của nhân dân, thực hiện xóa đói giảm nghèo. Mức thu nhập bình quân của nhân dân tăng trên 5%/ năm. Hiện nay tỷ lệ nghèo chung đã giảm một nửa sau 10 năm phấn đấu là một thành tựu lớn, được thế giới thừa nhận.

Cơ cấu kinh tế ngành của các vùng đã có sự thay đổi mạnh, ngay cả trong điều kiện cả nước chịu tác động mạnh của khủng hoảng kinh tế. Trên thực tế, chỉ có vùng Đông Nam bộ về hình thức của cơ ngành đã tương ứng với nền kinh tế của nước công nghiệp, tuy chất lượng của chuyển cơ cấu chưa cao, nhất là các ngành dịch vụ cao cấp còn chậm phát triển (năm 2000, nông nghiệp chiếm 6,6 GDP; công nghiệp chiếm tới 56,7%GDP và dịch vụ mới đạt 36,7% GDP). Tuy nhiên, công nghiệp phát triển còn dựa nhiều vào công nghiệp khai thác, công nghiệp chế biến với công nghệ cao còn chưa phát triển nhiều, làm ảnh hưởng tới khả năng cạnh tranh dài hạn của vùng.

Bảng 4: Cơ cấu ngành các địa phương năm 2002

GDP (giá hiện hành)

Tổng GDP

Tỷ trọng (%)

Nông nghiệp(%)

Công nghiệp(%)

Dịch vụ(%)

Cả nước (tỷ đồng)

Các tỉnh được xem là hoàn thành chuyển đổi cơ cấu công nghiệp hóa21

Hà Nội

Quảng Ninh

Đà Nẵng

Bà Rịa – Vũng Tàu

Tp. Hồ Chí Minh

Các tỉnh thành khác

398432,9

 

 

159429,4

31512,8

5423,8

4946,9

41683,9

75862,0

239003,5

100,0

 

 

40,0

7,9

1,4

1,2

10,5

19,0

60,0

24,5

 

 

2,8

3,0

9,8

7,8

2,7

2,0

39,0

36,7

 

 

54,6

37,0

45,2

41,3

87,5

45,4

24,8

38,7

 

 

42,6

60,0

45,0

50,9

9,8

52,6

36,2

Nguồn: Niên giám thống kê các tỉnh năm 2000 và Việt Nam năm 2002, tr 51.

            Số liệu về các mục tiêu phát triển của Việt Nam, Tổng cục Thống kê, 2003, tr 15-17.

(21). Tỷ trọng nông nghiệp dưới 10% GDP, tuy GDP bình quân đầu người và mức sống còn khiêm tốn. Do đó, trong những năm trước mắt cần nâng cao chất lượng tăng trưởng và chuyển đổi cơ cấu, nâng cao hiệu quả và sức cạnh tranh.

Khi xét tới những chuyển dịch cơ cấu ngành trên các tỉnh, có thể thấy chỉ có một số ít các tỉnh đã “về đích sớm” trong quá trình thực hiện công nghiệp hóa. Có 5 tỉnh và thành phố thuộc ba vùng kinh tế trọng điểm là Hà Nội, Quãng Ninh, Đà Nẵng, Bà Rịa – Vũng Tàu và Thành phố Hồ Chí Minh năm 2000 đã có tỷ trọng nông nghiệp giảm xuống dưới 10% GDP. Chỉ 5 địa phương này đã đóng góp 40% GDP cả nước.

 

PGS. TSKH Nguyễn Quang Thái

Hội Khoa học Kinh tế Việt Nam

Biên tập và tổng hợp từ nguồn "Nghiên cứu kinh tế số 313 – Tháng 6/2004”

(8659 Lượt xem)

CÁC TIN BÀI KHÁC:
Ngôn ngữ Ngôn ngữ
English (United States) Tiếng Việt (Việt Nam)
Hoạt động nghiên cứu khoa học Hoạt động nghiên cứu khoa học
Tin hoạt động khoa học tháng 08 năm 2018 (11/9/2018)

Tin hoạt động khoa học tháng 07 năm 2018 (13/8/2018)

Tin hoạt động khoa học tháng 06 năm 2018 (9/7/2018)


Số lượt truy cập Số lượt truy cập
18447293