KINH TẾ VĨ MÔ - KINH TẾ NGÀNH KINH TẾ VĨ MÔ - KINH TẾ NGÀNH
Công tác hội nhập kinh tế quốc tế của thành phố Hồ Chí Minh năm 2005 - Thực trạng và một số kiến nghị

Thực hiện: Th.S. Nguyễn Văn Quang, Th.S. Dư Phước Tân, Th.S. Đoàn Ng. Ngọc Quỳnh, CN. Vũ Phạm Tín, CN. Triệu Thành Sơn, CN. Hoàng Yến, CN. Nguyễn Thị Tường Vân, CN. Nguyễn Thị Cẩm Vân, CN. Châu Quốc An

 
Nội dung nghiên cứu

Cùng với cả nước trong công tác chuẩn bị hội nhập kinh tế quốc tế, trong năm 2005 thành phố Hồ Chí Minh đã tiếp tục thực hiện Nghị Quyết 07-NQ/TW của Bộ chính trị về hội nhập kinh tế quốc tế. Các sở ngành thành phố và các doanh nghiệp trên địa bàn TP.HCM đã thực hiện một số công tác chuẩn bị và đã đạt được một số thành tựu nhất định. Dưới đây là tóm tắt kết quả khảo sát tình hình công tác hội nhập kinh tế quốc tế của các sở ngành và doanh nghiệp trên địa bàn thành phố năm 2005 như sau: 

I. CÔNG TÁC HỘI NHẬP KINH TẾ QUỐC TẾ CỦA MỘT SỐ SỞ NGÀNH  

1.                 Công tác tư tưởng, thông tin, tuyên truyền

Trong năm 2005, Website của một số các Sở ngành liên quan thường xuyên được cập nhật nhằm hoàn thiện kênh cung cấp thông tin, văn bản pháp luật và các kiến thức liên quan chung đến các tổ chức kinh tế quốc tế và hội nhập, với các nội dung như:  chính sách liên quan đến lĩnh vực xuất khẩu; địa chỉ, website, email của các tổ chức xúc tiến thương mại trong và ngoài nước, các doanh nghiệp tham gia xuất khẩu, các văn phòng đại diện nước ngoài trên địa bàn TP, các hiệp định thương mại đa phương và song phương giữa VN và các nước.

Thành phố đã tổ chức các cầu nối giữa doanh nghiệp và chính quyền thông qua hệ thống đối thoại trên mạng Cityweb, website của các Sở. Các doanh nghiệp đã được hỗ trợ giới thiệu về website của mình để quãng bá thương hiệu. Đặc biệt, trong năm 2005, Sở Kế hoạch & Đầu tư, Trung tâm Xúc tiến Thương Mại TP và một số sở ngành đã và đang triển khai Dự án Ngân hàng dữ liệu kết nối liên thông tin giữa các sở ngành. Thông qua dự án này, thành phố đã cung cấp thông tin cho các tổ chức, cá nhân trong và ngoài nước, chủ yếu là các thông tin về các doanh nghiệp VN (ngành gỗ, dệt may, da giày, thực phẩm…) và thông tin về hội chợ trong và ngoài nước.

Họat động của một số sở ngành cũng bắt đầu đi vào chiều sâu, chẳng hạn như Sở Thương Mại đã khảo sát 250 doanh nghiệp để làm cơ sở xây dựng tài liệu tuyên truyền phổ biến kiến thức thương mại điện tử. Bên cạnh đó, hàng tuần, ITPC có biên soạn bản tin về Xúc tiến thương mại, du lịch  và đầu tư của TP.

2.                 Rà soát văn bản pháp luật, xây dựng, sửa đổi và bổ sung các cơ chế, chính sách kinh tế

Công tác rà soát văn bản pháp luật liên quan đến hội nhập kinh tế quốc tế vẫn được tiếp tục thực hiện trong các năm qua. Các Sở ban ngành trong năm 2005 đã tiếp tục thực hiện cải cách hành chính theo hướng công khai, minh bạch, tạo điều kiện dễ dàng, thông thoáng cho hoạt  động đầu tư, thương mại. Sở Thương Mại đã hoàn thành giai đoạn 1 đề án “Hoàn thiện và ứng dụng công nghệ thông tin trong công tác quản lý hành chính”.

Ngày 14/10/2004, UBND TP đã ban hành quyết định số 236/2004/QĐ-UB về quy định thủ tục, trình tự và cơ chế phối hợp giải quyết các vấn đề liên quan đến đầu tư trực tiếp nước ngòai trên địa bàn TP. Mọi vấn đề về hướng dẫn thủ tục đầu tư, hỗ trợ các thủ tục hành chính, các vấn đề liên quan đến đất đai đều quy định rõ trách nhiệm và thời gian thực hiện đối với các Sở, ban, ngành, quận huyện có liên quan. Đây là họat động quan trọng và nổi bất nhất trong công tác hỗ trợ nhà đầu tư của Sở Kế họach và Đầu tư. Trong năm 2005, Sở đã tổ chức được gần 100 cuộc họp và làm việc với các thành viên của tổ 236, phần lớn là các buổi làm việc với Quận huyện về tìm kiếm địa điểm đầu tư và hỗ trợ các vấn đề sau phép.

Đồng thời với cải cách trên của các sở ngành thành phố, Cục Hải Quan đã tiến hành cải cách thủ tục, tác phong, lề lối làm việc và công khai các quy định, cũng như giải đáp, hướng dẫn nhanh về thủ tục hải quan trên trang web, tại các địa điểm làm thủ tục; trang bị các hệ thống xếp hàng tự động để ổn định trật tự, công bằng cho doanh nghiệp khi chờ làm thủ tục đăng ký, kiểm hóa hàng hóa XNK. Điều này đã được các doanh nghiệp rất hoan nghênh. Song song đó, Cục Hải quan TP còn triển khai thí điểm thực hiện theo QĐ số 149/2005/QĐ-TTg ngày 20/6/2005 của Thủ tướng chính phủ về việc thực hiện thí điểm thủ tục hải quan điện tử. Đến thời điểm tháng 10 năm 2005, Cục Hải Quan TP đã làm thủ tục hải quan 1.728 tờ khai, cấp giấy chứng nhận cho 33 DN với kim ngạch XK 149,5 triệu USD, thu được số thuế 186.2 tỷ đồng. Kết quả đạt được trong năm 2005 đối với Cục Hải quan còn nhiều cải cách nhảy vọt, chẳng hạn như Cục Hải Quan TP đã tổ chức triển khai thực hiện đồng bộ Luật Hải Quan, luật thuế XK, thuế NK; Luật thương mại; và các luật có liên quan. Đồng thời, phải áp dụng điều ước Quốc tế, tập quán và thông lệ quốc tế Việt Nam đã ký kết họăc tham gia mà Luật Hải quan có quy định khác hoặc chưa có quy định. Đồng thời, Cục Hải quan đã thực hiện Công ước H.S (Hamonize Systems), mỗi hàng hóa chỉ có 1 mã số. Vì vậy, phải có căn cứ khoa học để xác định chính xác mã số. Năm 2005 đã giải quyết 15 DN khiếu nại không chính xác về mã số hàng hóa nhập khẩu, hướng dẫn 53 DN về mã số H.S trước khi nhập hàng, tư vấn cho các hải quan cửa khẩu 253 trường hợp về H.S.

Sự nỗ lực đáng kể của ngành ngân hàng cũng được ghi nhận trong năm 2005. Theo định hướng của ngành Ngân hàng trong quá trình cạnh tranh và hội nhập, các ngân hàng phải thực hiện tái cơ cấu hoạt động, bao gồm: tái cơ cấu mô hình tổ chức và tái cơ cấu tài chính. Vì vậy, các ngân hàng đều đang nỗ lực tự hoàn thiện mình. Bên cạnh đó, Ngân hàng Nhà nước (NHNN) đã dần từng bước hoàn thiện các cơ chế chính sách phù hợp với các chuẩn mực chung của Quốc tế. Đặc biệt trong năm 2005, NHNN đã ban hành quy định về việc thực hiện các hệ số an toàn trong hoạt động ngân hàng, phân loại nợ và trích lập dự phòng bù đắp rủi ro theo chuẩn mực quốc tế.  Về quản lý ngoại hối, NHNN đang dần từng bước nới lỏng các giao dịch vãng lai. Nhờ vậy, với kết quả thực hiện của các ngân hàng (NH) trên địa bàn hiện nay cho thấy các NH đã tự hoàn thiện, nâng cao năng lực hoạt động thông qua việc nâng cao năng lực về vốn; đổi  mới và hiện đại hóa công nghệ thông tin; đa dạng hóa các dịch vụ ngân hàng hiện đại( dịch vụ về thẻ, thanh toán qua thẻ,…); phát triển nâng cao chất lượng các dịch vụ ngân hàng điện tử (homebanking, mobilbanking, e-banking); nâng cao năng lực thanh toán; đào tạo và phát triển nguồn nhân lực đáp ứng yêu cầu hội nhập

3.                 Phát triển các sản phẩm công nghiệp chủ lực của TP.HCM

Đây là một trong những mục tiêu trọng điểm của thành phố trong năm 2005, nhằm góp phần chuẩn bị thiết thực cho công tác hội nhập kinh tế quốc tế. Trong năm 2005, Viện Kinh Tế, Sở KH&CN đã phối hợp cùng Thường trực Ban chỉ đạo chương trình xây dựng logo và các tiêu chí để xét công nhận 11 sản phẩm công nghiệp chủ lực TP.HCM. Viện Kinh Tế đã thực hiện tư vấn cho Công ty Việt Tiến, Samco,…. về xây dựng lộ trình hội nhập kinh tế quốc tế.

Với vai trò quản lý và phát triển công nghệ, Sở KH-CN đã hỗ trợ các doanh nghiệp thông qua việc tiếp nhận 69 hồ sơ đề nghị hỗ trợ từ Thường trực Ban chỉ đạo chương trình, doanh nghiệp sản phẩm công nghiệp chủ lực và đang tiến hành giải quyết.

4.                 Các chương trình huấn luyện, hội thảo và hỗ trợ doanh nghiệp nâng cao năng suất-chất lượng phục vụ

Nhìn chung, để thực hiện các chương trình hợp tác quốc tế dài hạn như cung cấp các  thông tin về chính sách, luật pháp trong quá trình hội nhập kinh tế thế giới, cũng như các thông tin về các hiệp định thương mại song phương, đa phương mà chính phủ đã ký kết và lịch trình thực hiện các cam kết của Việt Nam, các cam kết và lịch trình thực hiện các cam kết của các nước đối tác thương mại đối với các doanh nghiệp, trong năm 2005, Trung tâm Xúc tiến Thương Mại và Đầu tư (ITPC) đã phối hợp với các tổ chức quốc tế, các sở ngành, trường, hiệp hội, tổ chức 2 khóa hội thảo, huấn luyện cho tổng cộng khỏang 1.363 lượt người đến từ 802 doanh nghiệp. Sở KH&CN đã tổ chức 5 lớp bồi dưỡng giám đốc cho 333 học viên, trong đó có 3 lớp mở chuyên đề cho tổng công ty Rượu bia nước giải khát, Tổng công ty thương mại Sài gòn và Hội liên hiệp phụ nữ. Để góp phần nâng cao năng lực cho các doanh nghiệp, Sở KH&CN đã tổ chức các khóa huấn luyện ngắn hạn như tập huấn về nâng cao năng suất và chất lượng (1.777 học viên); về sở hữu trí tuệ (5 hội thảo)  và bảo hộ nhãn hiệu hàng hóa (8 lớp với 400 học viên); huấn luyện về Kỹ năng khai thác thông tin (18 khóa với 728 học viên).

Một số Sở ngành liên quan cũng đã góp phần thực hiện nhiệm vụ tuyên truyền và đào tạo kiến thức hội nhập kinh tế quốc tế cho các doanh nghiệp. Sở Thương Mại đã phối hợp với Viện Kinh Tế và Saigon COOP xây dựng cơ chế chính sách hỗ trợ  phát triển siêu thị và trung tâm thương mại. Cục Hải quan đã phối hợp với ITPC, VCCI và Viện Kinh Tế tuyên truyền, phổ biến các văn bản pháp luật và thủ tục Hải quan. Kết quả mang lại là đã hỗ trợ hơn 250 doanh nghiệp áp dụng hệ thống quản lý chất lượng quốc tế  (tư vấn, đào tạo, chi phí chứng nhận), trong đó 80% được cấp chứng nhận.

Sở KH&CN trong năm 2005 còn hỗ trợ DN thiết kế, đăng ký và bảo hộ 1000 nhãn hiệu; đăng ký nhãn hiệu hàng hóa tập thể cho 3 hiệp hội (Lương thực-thực phẩm, Trái cây, Nhựa); hỗ trợ Sở Du Lịch, Báo Sài gòn Tiếp thị đăng ký nhãn tập thể. Hoàn tất dự thảo quy chế sử dụng dấu hiệu “Sài Gòn” và biểu tượng”Chợ Bến Thành”. Kết quả đã tư vấn và hỗ trợ 70 doanh nghiệp ứng dụng các giải pháp công nghệ trong tiết kiệm năng lượng. Những kết quả trên đã góp phần đáng kể trong công tác hỗ trợ doanh nghiệp chuẩn bị hội nhập.  

5. Thu hút đầu tư

Bên cạnh công tác cải thiện môi trường đầu tư thông thoáng, Sở Kế Hoạch Đầu Tư, Sở Thương Mại và ITPC đã có khá nhiều họat động xúc tiến thương mại và đầu tư trong năm 2005, cụ thể như đã tham gia các đoàn Xúc tiến thương mại, đầu tư và du lịch tại Pháp, Ý, Tây Ban Nha, Nhật Bản, Singapore và Malaysia; phối hợp với các hội lương thực thực phẩm, dệt may thêu đan, Hội chế biến gỗ và thủ công mỹ nghệ tổ chức đi khảo sát và nghiên cứu thị trường Đông Âu; tổ chức “Ngày Việt Nam” tại Pháp, “Ngày TP.HCM” tại Ấn Độ, “Tuần lễ thời trang” tại Singapore; tổ chức các hội thảo về “Cơ hội đầu tư và kinh doanh tại TP.HCM” cho các nhà đầu tư Đức.

 Đặc biệt là trong các khâu tổ chức hội chợ đã mang lại nhiều kết quả thiết thực trong năm 2005, như tổ chức Hội chợ Đầu tư tại TP.HCM. Hội chợ đã giới thiệu hơn 130 dự án kêu gọi đầu tư vào các lĩnh vực cơ sở hạ tầng, bất động sản, công nghệ cao và dịch vụ, và đã thu hút hơn 300 nhà đầu tư trong và ngòai nước tham dự; tham gia hội chợ với 11  DN ngành may mặc tại Dussedorf-Đức. Đây là bước cuối cùng của chương trình “Hỗ trợ các DN vừa và nhỏ ngành may mặc xuất khẩu vào Châu Âu” đã kéo dài hơn 2 năm qua.

Không chỉ tổ chức hội chợ trong nước, thành phố còn tổ chức đưa một số doanh nghiệp tham gia hội chợ thực phẩm Sial Âu Á tại Thượng Hải với 7 DN. Sau 3 ngày hội chợ, các DN VN đã tiếp 655 khách, ký 11 hợp đồng, 37 bản ghi nhơ, có 15 khách đặt vấn đề làm đại lý tại Trung Quốc; tham gia triển lãm hàng thủ công mỹ nghệ tại Washington và triển lãm tại Aichi-Nhật Bản.

Hoạt động xúc tiến đầu tư còn mang lại nhiều kết quả thông qua các họat động triển lãm và hội nghị. Trong năm 2005, thành phố đã tổ chức triển lãm Forinvest tại Hà Nội, giới thiệu các thành tựu kêu gọi đầu tư trực tiếp nước ngoài của TP.HCM. Các chuỗi họat động xúc tiến xuất khẩu bao gồm:

§                     Showroom xuất khẩu cho hàng dệt may và da giày với 47 DN tham gia, thu hút 2.854 khách tham quan, tiếp đón 10 đòan kinh tế ngọai giao.

§                     Hội chợ dệt may và da giày xuất khẩu A&F Expro 2005 – lần thứ nhất, thu hút 1.263 lượt khách/công ty tham quan. Có 61 hợp đồng và bản ghi nhớ đăng ký quota đi thị trường Hoa Kỳ, 206 cuộc hẹn thương thảo sau hội chợ.

Ngoài ra, ITPC còn tiếp các đoàn khách tìm cơ hội xúc tiến thương mại tại thành phố, tổ chức các cuộc gặp gỡ tìm cơ hội hợp tác giữa các doanh nghiệp trong và ngoài nước. ITPC đã tổ chức hội nghị giữa lãnh đạo Thành phố, các ban ngành với công ty tư vấn, hiệp hội doanh nhân nước ngòai về môi trường đầu tư TP.

II. TÌNH HÌNH CHUẨN BỊ HỘI NHẬP CỦA MỘT SỐ DOANH NGHIỆP

Để tìm hiểu tình hình chuẩn bị hội nhập kinh tế quốc tế của các doanh nghiệp và những vấn đề khó khăn mà các DN đang gặp phải, Tổ hội nhập Viện Kinh tế đã tổ chức khảo sát một số doanh nghiệp trên địa bàn thành phố và nội dung khảo sát đã tập trung vào các câu hỏi: (1) Những hiểu biết về tiến trình hội nhập kinh tế quốc tế của doanh nghiệp như thế nào? (2) Doanh nghiệp đã chuẩn bị gì cho tiến trình hội nhập kinh tế quốc tế (3) Doanh nghiệp tự đánh giá ra sao về những thuận lợi, thách thức khi VN gia nhập WTO, qua đó có kế hoạch chuẩn bị những gì? Và (4) Doanh nghiệp đề xuất gì lên các cấp quản lý? những gì cần làm để giúp các doanh nghiệp tự nâng cao năng lực cạnh tranh?

Nhóm nghiên cứu Viện Kinh tế đã tiến hành khảo sát điển hình khoảng 12 doanh nghiệp trực thuộc một số ngành chủ yếu như ngành chế biến thực phẩm, may mặc, điện - điện tử và ngành cơ khí. Đây là các ngành chủ yếu của TP chịu tác động mạnh nhất của tiến trình hội nhập.

Các đơn vị được chọn khảo sát trong chuyên đề này bao gồm:

Ngành chế biến thực phẩm: khảo sát các công ty Tribeco, Vinamilk, Vina Acecook

v   Ngành may mặc: Khảo sát các công ty Dệt May Thái Tuấn, Legamex, Sài Gòn 2

v   Ngành Điện – điên tử: Khảo sát các công ty/ DN Điện cơ khí Lữ Gia, Dây điên từ Ngô Han, Cơ điện Thủ Đức và Bóng đèn điện quang.

v   Ngành cơ khí: khảo sát điển hình Công ty máy Sinco  

Nhìn chung, nhận định về những tồn tại khó khăn của các DN hiện nay trong tiến trình chuẩn bị hội nhập và các kiến nghị bao gồm những điểm chính như sau:

1.                  Một cách tổng quát, doanh nghiệp ngành sản xuất đã nhận thức phần nào những thuận lợi và các thử thách có thể gặp phải trong tiến trình hội nhập kinh tế quốc tế. Ngược lại, doanh nghiệp ngành gia công các mặt hàng lại rất “bình thản” với những vấn đề hội nhập này. Qua trao đổi, các doanh nghiệp này cho rằng cho dù có hội nhập kinh tế quốc tế hay không thì các đơn vị nước ngoài đặt hàng cho công ty vẫn không có gì thay đổi. Cũng cần lưu ý là đối với những doanh nghiệp gia công này, bên cạnh việc nhận đặt hàng, làm thuê cho các DN nước ngoài, họ vẫn đang chú trọng mở rộng thị phần trong nước.

2.                  Những khó khăn chung mà tất cả doanh nghiệp đều gặp phải là những vấn đề về tiếp cận thông tin hội nhập. Nhiều doanh nghiệp đã phản ảnh họ không nắm được thông tin về tiến trình và nội dung và kết quả các phiên đàm phán giữa chính phủ ta với Chính phủ các nước theo từng ngành nghề và lãnh vực.

3.                  Các DN ngành chế biến thực phẩm hiện nay đang gặp một số khó khăn chính và một số đề đạt kiến nghị, như sau:

v                              Khó khăn về mặt bằng trong quá trình mở rộng sản xuất. Hiện nay các doanh nghiệp này đang mong muốn mở rộng mặt bằng và đa dạng hóa nhiều chủng loại mặt hàng, nâng cao sức cạnh tranh. Tuy nhiên, do đất đai ngày càng khó khăn, nhất là những mãnh đât đòi hỏi phải tiến hành giải tỏa đền bù của các hộ dân, nên hầu hết các DN chế biến thực phẩm đều than phiền về vấn đề này. Do vậy, DN đề nghị nên chính quyền thành phố có thể ban hành các chính sách linh hoạt cụ thể trong việc bàn giao mặt bằng để DN mở rộng sản xuất. Tránh tình trạng phải bị kéo dài (về mặt bằng) gây lãng phí và mất đi cơ hội kinh doanh của DN tại thời điểm hiện nay và trong tương lai.

v                               Bên cạnh đó, các DN còn gặp khó khăn về các “rào cản kỹ thuật” khi xuất khẩu sang các thị trường “khó tính”. Ví dụ: khi nhập hàng, yêu cầu của một số nước (như USA…) là thời hạn sử dụng của sản phẩm phải từ 3 năm trở lên, trong khi giới hạn này ở ngành chế biến thực phẩm ở VN vẫn thường sử dụng là từ 1 năm trở lên. Điều này đòi hỏi DN phải cải tiến lại chất lượng sản phẩm, đồng thời kiến nghị Nhà nước cũng nên ban hành những quy định nghiêm nhặt về việc mở rộng thời hạn sử dụng an toàn các loại thực phẩm chế biến này.

v                               Khó khăn trong chi phí quãng cáo bị khống chế. Sự cạnh tranh trong quãng cáo là yếu tố quan trọng trong công tác tiếp thị sản phẩm trong và ngoài nước. Tuy nhiên, do chính sách thuế hiện nay đã khống chế chi phí cho marketing không vượt quá 10% doanh thu gây nhiều khó khăn cho doanh nghiệp trong việc quảng cáo và khuếch trương thương hiệu. Do đặc điểm DN chế biến thực phẩm tại TP.HCM vốn thường không nhiều; do vậy, việc chấp nhận lỗ để bù đắp chi phí quãng cáo trong thời gian đầu là không thể thực hiện được, như một số công ty nước ngoài hiện nay. Tuy nhiên, hiện nay, Bộ Tài Chính đang trình Chính phủ, chờ giải quyết vấn đề này.

v                              Khó khăn về nguồn nhân lực. Do nhận thức được công tác đào tạo nguồn nhân lực là rất cần thiết, tuy nhiên khi đưa một số kỹ sư giỏi ra nước ngoài học tập, ngoại ngữ lại chính là rào cản và ảnh hưởng khi đưa đi nước ngoài đào tạo. Điều này có liên quan đến chủ trương nâng cao trình độ ngoại ngữ cho các cán bộ, công nhân viên hiện nay trong toàn xã hội.

v                              Khó khăn về thủ tục hải quan và xuất nhập khẩu. Do các nguyên phụ liệu trong công đoạn chế biến thực phẩm thường phải nhập khẩu từ nước ngoài. Tuy nhiên, do hướng dẫn chưa cụ thể nên doanh nghiệp thường gặp khó khăn trong khi làm thủ tục hải quan, nộp thuế. Do vậy, DN cũng đề nghị  nên ban hành chính sách hướng dẫn cụ thể trong việc hoàn thuế nhập khẩu đối với các nguyên phụ liệu thuộc ngành chế biến thực phẩm. Đồng thời, trong quá trình đàm phám WTO, nếu Chính phủ đàm phán với các nước có liên quan đến thị phần nhập khẩu nguyên liệu của doanh nghiệp (VD: Newzeland là nước cung cấp nguyên liệu sửa cho Vinamilk), đề nghị Nhà nước có thể tham khảo ý kiến của DN khi đi đàm phán, đề tránh những sự nhượng bộ quá mức (nếu có) gây ảnh hưởng đến thị trường nguyên liệu nhập khẩu của DN về sau. Do vậy, doanh nghiệp ngành chế biến kiến nghị, nếu được, có thể cung cấp thông tin về đám phán cho các DN (khi có liên quan đến thị trường nhập khẩu hàng hóa của DN đối với nước đàm phán), trước và sau khi đàm phán.    

4.                  Các Doanh nghiệp ngành Dệt May đang gặp một số khó khăn và những kiến nghị như sau:

v                              Khó khăn về nguồn nhân lực có trình độ cao, thường khan hiếm. Do đặc điểm ngành dệt may thường yêu cầu một số nhân lực có trình độ nhưng do có thể do mức thu nhập hạn chế, nên ngành dệt may (quy mô nhỏ) thường rất khó kiếm được người. Ngược lại, đội ngũ công nhân lại thường xuyên thay đổi chỗ làm, khi có nơi tuyển với mức thu nhập cao hơn. Điều này đã gây khó khăn cho nhiều DN có quy mô nhỏ, sau khi tuyển người và đào tạo trở thành công nhân lành nghề, thì lại tiếp tục chuyển dịch sang DN khác. Do vậy, việc đào tạo thêm tay nghề cho công nhân, thường rất ít khi đặt ra đối với ngành dệt may, nhất là ở các DN có quy mô nhỏ. Đồng thời, sự dịch chuyển của lực lượng công nhân sang các công ty khác đã ảnh hưởng đến tiến độ và năng suất của công ty dệt may.

v                               Bản quyền, mẫu mã thường chưa được DN ngành dệt may chú trọng. Ngoài trừ một số DN lớn, hầu hết vẫn chưa chú trọng nhiều về điều này.

v                              Khó khăn về nguồn nguyên phụ liệu, do phải lệ thuộc rất nhiều vào nước ngoài. Do vậy, DN ngành dệt may kiến nghị nhà nước nên có biện pháp phát triển thị trường nguồn nguyên phụ liệu trong nước, bởi đây là yếu tố quan trọng để giảm chi phí đầu vào cho các doanh nghiệp. Tuy nhiên, hiện nay, thành phố đang có đề án xây dựng tại Quận 2 hoặc Quận 9 một Trung tâm nguyên phụ liệu ngành dệt may tại TP.HCM.

v                              Khó khăn về chính sách không ổn định của Nhà nước hiện nay. Một số DN ngành dệt may cũng gặp khó khăn về mặt bằng, công tác giao thuê đất vẫn còn một số bất cập. DN ngành dệt may kiến nghị Nhà nước cần có một môi trường chính sách ổn định để có thể giúp DN hoạch định một chiến lược phát triển lâu dài. Trong điều kiện hiện nay, doanh nghiệp chỉ có thể tập trung phát triển cho hiện tại mà không thể xây dựng định hướng chiến lược dài hạn.

v                              Ngoài ra, tương tự như một số DN ngành chế biến thực phẩm, DN ngành dệt may cũng đang gặp khó khăn về ‘rào cản kỹ thuật” khi xuất sang một số nước. Do vậy, DN nhận thức rằng, sau khi gia nhập WTO, mặc dù có thuận lợi rất lớn là được bãi bỏ hạn ngạch, tuy nhiên những công ty dệt may vẫn chịu nhiều sức ép về phía rào cản kỹ thuât (ví dụ như hàng hóa XK sang thị trường Mỹ phải đạt một số tiêu chuẩn như lao động sạch, trách nhiệm xã hội, an ninh sản xuất …). Thực tế cho thấy, mặc dù một số công ty dệt may tại TP.HCM vẫn đang cố gắng xây dựng tiêu chuẩn SA8000, nhưng vẫn còn bị vướng về giờ công làm việc của công nhân. Nếu theo thực hiện theo quy định của SA8000 thì mức thu nhập lại không thỏa mãn người lao động trong XN may.

5.                  Doanh nghiệp thuộc ngành điện – điện tử cũng gặp một số khó khăn trong tiến trình chuẩn bị hội nhập kinh tế quốc tế và đã có một số kiến nghị như sau:

v                              Khó khăn về tiềm lực về tài chính và công nghệ trong cạnh tranh. Do đặc điểm ngành điện – điện tử thường đòi hỏi vốn lớn và trình độ công nghệ cao nên một số DN trong ngành điện – điện tử đã nhận thức đây là khó khăn lớn nhất trong tiến trình hội nhập. Điều này ảnh hưởng đến khả năng mở rộng thị trường, do công nghệ lạc hậu. Bên cạnh đó, một số DN ngành điện- điện tử đã than phiền vay vốn với lãi suất cao và quá nhiều thủ tục. do vậy, đề nghị cần hỗ trợ lãi suất vay vốn đối với DN thuộc ngành này và cải tiến thủ tục ngân hàng.

v                              Mặc dù một số DN ngành này đã mở rộng thị trường xuất khẩu sang Châu Âu, Mỹ, tuy nhiên hầu hết DN thường than phiền chưa đủ điều kiện để nghiên cứu các thị trường nước ngoài. Đây là điểm cần chính quyền thành phố hỗ trợ trong thời gian tới.

v                              Khó khăn trong cải tiến công nghệ. Mặc dù đặc điểm của ngành này là đòi hỏi công nghệ cao, quyết định đến hiệu quả sản xuất và mở rộng thị trường, tuy nhiên hầu hết các DN thuộc ngành điện – điện tử đều cho rằng, chính sách thuế hiện nay chưa ưu đãi cho việc cải tiến công nghệ, mà chủ yếu ưu đãi cho việc mở rộng quy mô sản xuất. Chẳng hạn như, đối với một dây chuyền hiện đại được nhập khẩu về, hải quan thành phố đề nghị phải qua sự kiểm tra của Vinacontrol, nhưng lại không đủ khả năng để thẩm định, làm mất nhiều thời gian của DN. Do vậy, DN kiến nghị nên cải tiến thủ tục HQ thông thoáng hơn, đồng thời nâng cao trình độ kiểm hoá viên và miễn thuế nhập khẩu đối với cac máy móc tiên tiến hiện đại (hình thức khuyến khích DN cải tiến công nghệ cao)

v                              Khó khăn về hàng giả. Một số DN đã kiến nghị nên triển khai mạnh mẽ công tác chống hàng giả, cạnh tranh không lành mạnh, đặc biệt là bán phá giá bằng nhiều hình thức khác nhau.

6.                  Đối vối DN cơ khí (Sinco), nhìn chung, DN chỉ đề đạt hai kiến nghị lớn, đó là:

v                   Cần có chính sách miễn giảm thuế đối với một số nguyên vật liệu, phụ kiện, phụ tùng máy móc.

v                   Giảm thuế thu nhập cho doanh nghiệp cơ khí (thuế thu nhập doanh nghiệp đối với công ty cơ khí hiện nay là 28%).

III. MỘT VÀI NHẬN XÉT VÀ KIẾN NGHỊ

1. Nhận xét

- Nhìn chung,trong thời gian qua, có khá nhiều doanh nghiệp chưa quan tâm đến hội nhập. Đa số trong nhóm DN này là những DN có mục tiêu chỉ sản xuất phục vụ nhu cầu trong nước. Nhưng thật ra, dù sản xuất phục vụ trong nước hay xuất khẩu thì những ảnh hưởng từ việc cắt giảm thuế từ chủ trương hội nhập của chính phủ đối với thị trường trong nước là vẫn có. Ngòai ra, khi thuế nhập khẩu giảm thì giá nguyên vật liệu nhập khẩu sẽ giảm, giúp DN giảm được giá thành đầu vào. Trong khi, nếu DN không tận dụng được cơ hội thì giá thành sản phẩm sẽ cao và không thể cạnh tranh với hàng ngọai nhập.

- Nhiều doanh nghiệp còn rất bị động trong việc tìm kiếm thông tin cũng như chuẩn bị hội nhập. Doanh nghiệp thường chờ đợi hướng dẫn. Trong khi đó các thông tin do các Sở Ban Ngành cung cấp chỉ cụ thể được ở một mức độ nhất định chứ không thể đáp ứng hết những yêu cầu thông tin trong từng lĩnh vực cụ thể.

2. Đề nghị

- Để biến hội nhập thành đòn bẩy cho sự phát triển, Việt Nam nói chung và thành phố Hồ Chí Minh nói riêng cần phải nỗ lực nhằm cải thiện môi trường đầu tư, kinh doanh xuất phát từ những cơ chế, chính sách và điều quan trọng hơn cả vẫn là doanh nghiệp, họ phải biết tự nâng cao khả năng cạnh tranh của mình. Do vậy, việc hỗ trợ doanh nghiệp cần được tiếp tục chú trọng nhiều hơn trong thời gian tới.

- Bên cạnh những kiến thức về hội nhập được phổ biến thông qua các khóa huấn luyện, các tài liệu,… các doanh nghiệp cần phải liên tục cập nhật  bởi đó là những nội dung liên quan mật thiết đến sự tồn tại và phát triển của doanh nghiệp.Các DN nên tìm hiểu thông tin từ các Hiệp hội ngành nghề bởi vì họ mới có điều kiện tìm hiểu sâu, thu thấp những thông tin cụ thể về từng ngành hàng, từng sản phẩm cho doanh nghiệp.

- Bên cạnh sự hỗ trợ của các Sở Ban Ngành, các Hiệp hội ngành nghề cần quan tâm hơn nữa trong việc hỗ trợ DN hội nhập.

Hình thức: Báo cáo tóm tắt dài 10 trang, báo cáo tổng hợp dài 69 trang.

Lưu trữ trên mạng LAN VKT và Thư viện VKT - VKT 02.04.2006

Năm hoàn thành: HT2006

Xem chi tiết

(673 Lượt xem)

CÁC TIN BÀI KHÁC:
Ngôn ngữ Ngôn ngữ
English (United States) Tiếng Việt (Việt Nam)
HOẠT ĐỘNG NGHIÊN CỨU KHOA HỌC HOẠT ĐỘNG NGHIÊN CỨU KHOA HỌC
Tin hoạt động khoa học tháng 01 năm 2020 (5/2/2020)

Tin hoạt động khoa học tháng 12 năm 2019 (8/1/2020)

Tin hoạt động khoa học tháng 11 năm 2019 (5/12/2019)


Số lượt truy cập Số lượt truy cập
20641192