KINH TẾ VĨ MÔ - KINH TẾ NGÀNH KINH TẾ VĨ MÔ - KINH TẾ NGÀNH
Phát triển các thành phần kinh tế trên địa bàn TP. Hồ Chí Minh, các luận điểm về định hướng chuyển dịch cơ cấu thành phần kinh tế

Chủ nhiệm: TS.Trần Du Lịch Thành phần tham gia: TS. Đinh Sơn Hùng, GS.TS. Nguyễn Thị Cành, ThS.Nguyễn Xuân Thành, ThS. Phạm Bình An, ThS.Nguyễn Tấn Thắng, ThS.Lê Nguyễn Hải Đăng, CN.Cao Minh Nghĩa

 
Cơ cấu kinh tế và cơ chế quản lý luôn có quan hệ với nhau, đồng thời liên quan trực tiếp đến sự phát triển kinh tế - xã hội của đất nước và nghiên cứu cơ cấu kinh tế phải được thực hiện trên nhiều gốc độ khác nhau như: cơ cấu vùng lãnh thổ, cơ cấu ngành kinh tế - kỹ thuật, cơ cấu thành phần kinh tế. Tuy vậy, phạm vi của đề tài này chỉ giới hạn ở gốc độ cơ cấu thành phần kinh tế trên địa bàn TP.HCM.

Những kết quả nghiên cứu của các đề tài từ trước đến nay nhiều vấn đề không còn phù hợp cả về lý luận lẫn thực tiễn; hoặc có đề tài chỉ nghiên cứu một thành phần kinh tế riêng biệt chứ chưa có đề tài nào nghiên cứu một cách có hệ thống và mang tính cập nhật các thành phần kinh tế. Đó là lý do cho việc thực hiện đề tài “Phát triển các thành phần kinh tế trên địa bàn TPHCM – Các luận điểm về định hướng chuyển dịch cơ cấu thành phần kinh tế”. Trên cơ sở đó làm rõ đặc điểm, các hình thức tổ chức sản xuất - kinh doanh, động thái, mối quan hệ, vai trò, vị trí của mỗi thành phần kinh tế trong phát triển kinh tế - xã hội trên địa bàn TPHCM; từ đó đề xuất định hướng, giải pháp chính sách khai thác lợi thế, tiềm năng của mỗi thành phần kinh tế.

Mục tiêu nghiên cứu của đề tài là:

(1) Phân tích thực trạng, động thái và vai trò của mỗi thành phần kinh tế trong giai đoạn đổi mới.

(2) Làm rõ đặc điểm và đánh giá xu hướng phát triển của mỗi thành phần kinh tế.

(3) Nghiên cứu chính sách kinh tế hiện hành liên quan đến sự phát triển của các thành phần kinh tế, từ đó đề xuất giải pháp, chính sách tháo gỡ khó khăn để thúc đẩy phát triển bình đẳng của từng thành phần kinh tế.

Phương pháp nghiên cứu:

Áp dụng đồng thời nhiều phương pháp như: thống kê; lôgic và lịch sử; duy vật biện chứng.

Nội dung nghiên cứu:

Bố cục của đề tài gồm 6 phần sau:

Phần 1: Cơ sở lý luận và hệ thống các quan điểm của Đảng và Nhà nước về sự phát triển của các thành phần kinh tế

Trong phần này nêu lên một số khái niệm về thành phần kinh tế; cách phân loại thành phần kinh tế; hệ thống các quan điểm, đường lối của Đảng và Nhà nước Việt Nam về các thành phần kinh tế (trước đổi mới và sau đổi mới).

Phần 2: Thực trạng phát triển các thành phần kinh tế trên địa bàn TP.HCM

Đề tài tập trung phân tích sự biến động về số lượng các loại hình doanh nghiệp chia theo thành phần kinh tế trên địa bàn TP.HCM trong giai đoạn 1990-2000. Từ đó rút ra những tiềm năng và hạn chế của các thành phần kinh tế nêu trên.

Những tiềm năng bao gồm:

- Các doanh nghiệp nhà nước luôn tìm tòi phát huy sáng tạo giúp Đảng, Nhà nước đưa ra những chính sách cơ chế mới. Khu vực kinh tế ngoài nhà nước (tư nhân, cá thể, HTX) và tư bản nhà nước đã tăng số lượng hộ cá thể, tiểu chủ trong sản xuất công nghiệp, kinh doanh thương mại - dịch vụ. Hình thức kinh tế tư bản tư nhân ra đời dưới dạng các doanh nghiệp tư nhân, công ty trách nhiệm hữu hạn, công ty cổ phần đã phát triển nhanh chóng và ngày càng tăng về số lượng qui mô.

- Tính năng động sáng tạo của các chủ doanh nghiệp, đặc biệt là đối với khu vực kinh tế ngoài nhà nước. Sau một vài năm thực hiện chính sách đổi mới của đất nước khu vực kinh tế và nhà nước đã có mặt ở hầu hết các ngành khác nhau của nền kinh tế thành phố.

Những hạn chế như sau:

- Quy mô của các doanh nghiệp tư nhân, cá thể, HTX nói chung còn rất nhỏ. Quy mô nhỏ đã làm hạn chế khả năng hiện đại hóa sản xuất, khả năng về mở rộng thị trường, nhất là thị trường xuất khẩu. Hoạt động sản xuất của khu vực tư nhân, cá thể hiện nay chủ yếu còn mang tính thủ công và bán cơ giới, bán tự động.

- Chưa phát huy được tiềm năng liên kết giữa hai khu vực kinh tế là khu vực Nhà nước và khu vực tư nhân trong nước.  

- Chưa có khung pháp lý rõ ràng và cơ chế chính sách khuyến khích để phát triển thành phần kinh tế tư bản Nhà nước với tư nhân trong nước. 

- Chính sách cổ phần hóa DNNN còn nhiều hạn chế trong đó có việc hạn chế sự tham gia của tư nhân và làm cho tiến độ cổ phần hóa diễn ra quá chậm.

- Cùng với trình độ công nghệ chưa đồng đều thì trình độ và chất lượng đội ngũ lao động còn quá thấp so với yêu cầu nâng cao năng suất hiệu quả và tính cạnh tranh của sản phẩm Việt Nam trên thị trường quốc tế. 

Phần 3: Vai trò các thành phần kinh tế trong kinh tế TP.HCM

Phần này phân tích tốc độ tăng trưởng GDP, đóng góp vào tốc độ tăng GDP chung và quá trình chuyển dịch cơ cấu GDP của 3 thành phần kinh tế quốc doanh, ngoài quốc doanh và có vốn đầu tư nước ngoài trong giai đoạn 1990-2000. Trong đó khu vực quốc doanh đóng góp nhiều nhất, rồi đến khu vực ngoài quốc doanh và cuối cùng là khu vực có vốn đầu tư nước ngoài.

Nếu không phân biệt thành phần kinh tế thì trong giai đoạn 1990-2000 sự chuyển dịch cơ cấu GDP chia theo thành phần kinh tế trên địa bàn TP.HCM diễn ra theo chiều hướng tích cực. Trong đó, GDP của hai thành phần kinh tế quốc doanh và ngoài quốc doanh giảm tỷ trọng và GDP của thành phần kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài tăng nhanh tỷ trọng trong tổng GDP.

Phần 4: Nhận định về sự phát triển của các thành phần kinh tế

Trong giai đoạn 1990-2000, thành phần kinh tế nhà nước và hợp tác xã giảm cả về số lượng doanh nghiệp lẫn về tỷ trọng trong tổng GDP, mặc dù thành phần kinh tế nhà nước vẫn chiếm tỷ trọng lớn nhất trong tổng GDP trên địa bàn TP.HCM. Nguyên nhân chính là do quá trình cổ phần hóa DNNN đang diễn ra nên các DNNN có xu hướng sắp xếp, tổ chức lại theo hướng sản xuất - kinh doanh đạt hiệu quả cao. Các hợp tác xã đã được củng cố lại để hoạt động có hiệu quả hơn.

Ngược lại, thành phần kinh tế tư nhân và đầu tư nước ngoài đã tăng nhanh cả về số doanh nghiệp lẫn tỷ trọng trong tổng GDP trên địa bàn TP.HCM. Nguyên nhân chủ yếu là hành lang pháp lý được thông thoáng hơn trước, điển hình là Luật Doanh nghiệp mới ra đời năm 2000 và Luật Đầu tư nước ngoài mới được sửa đổi năm 2000. Chính hai bộ luật này đã kích thích các doanh nghiệp tư nhân và đầu tư nước ngoài phát triển mạnh trong giai đoạn 1991-2000.

Phần 5: Đánh giá thực trạng về cơ chế, chính sách quản lý Nhà nước tác động đến phát triển các thành phần kinh tế trên địa bàn TP.HCM

Đề tài đánh giá các chính sách vĩ mô như quản lý giá cả và lạm phát; tài chính công; tín dụng ngân hàng; tỷ giá hối đoái; mở rộng ngoại thương; phát triển các khu công nghiệp - khu chế xuất; ruộng đất; giao đất, cho thuê đất đối với các thành phần kinh tế.

Nhìn chung, mặc dù cần phải bổ sung, chỉnh sửa cho phù hợp với tình hình thực tế diễn ra, nhưng chính sách vĩ mô để phát triển các thành phần kinh tế đã dần dần hoàn thiện theo hướng vừa tạo môi trường kinh doanh thông thoáng, thuận lợi cho từng thành phần kinh tế phát triển, vừa kích thích tính cạnh tranh bình đẳng giữa các thành phần kinh tế với nhau.

Phần 6: Quan điểm định hướng và các chính sách, biện pháp phát triển các thành phần kinh tế

Quan điểm chung trong phát triển cơ cấu kinh tế nhiều thành phần là:

- Sự tồn tại của nhiều thành phần kinh tế là một tất yếu khách quan, là quy luật, không phụ thuộc vào ý chí, nguyện vọng của con người. Do đó cơ chế chính sách phải hướng tới tạo môi trường thuận lợi cho tất cả các thành phần kinh tế phát triển, chứ không phải hướng tới thu hẹp hay hạn chế sự phát triển của bất kỳ thành phần kinh tế nào. Và đây là quan điểm mang tính chiến lược lâu dài, chứ không phải là quan điểm của giải pháp mang tính chát tình thế.

- Khi một thành phần kinh tế, một hình thức tổ chức kinh doanh nào đó còn tồn tại, điều đó có nghĩa là nó còn cần thiết cho sự phát triển kinh tế - xã hội của đất nước. Do vậy không thể dùng ý chí mà xóa bỏ nó, mà ngược lại phải tạo mọi điều kiện để thành phần kinh tế đó phát triển và khai thác tốt nhất tiềm lực của nó.

- Trong cơ cấu kinh tế nhiều thành phần tất yếu vừa tồn tại tính thống nhất, tính mâu thuẫn và sự chuyển hóa lẫn nhau về vai trò, vị trí giữa các hình thức sở hữu, các thành phần kinh tế và các hình thức tổ chức sản xuất kinh doanh trong quá trình phát triển.

- Mỗi thành phần kinh tế là một bộ phận hợp thành và mỗi hình thức tổ chức sản xuất kinh doanh là một “tế bào” của nền kinh tế quốc dân thống nhất. Vì vậy mọi thành phần kinh tế, mọi hình thức tổ chức sản xuất kinh doanh đều bình đẳng với nhau trong khuôn khổ của pháp luật.

- Quy mô, hình thức sở hữu và quy mô, hình thức tổ chức sản xuất kinh doanh cũng như phạm vi hoạt động của mỗi thành phần kinh tế không phải là mục đích mà chỉ là phương tiện để giải phóng sức sản xuất xã hội, thúc đẩy sự phát triển. Vì vậy phát triển lực lượng sản xuất, nâng cao năng lực cạnh tranh và hiệu quả là những tiêu chí hàng đầu để xác lập quy mô, hình thức sở hữu và hình thức tổ chức sản xuất - kinh doanh cũng như phạm vi hoạt động của mọi thành phần kinh tế.

Đề tài cũng định hướng phát triển đối với từng thành phần kinh tế tùy thuộc đặc điểm của mỗi loại. Cụ thể là nâng cao hiệu quả hoạt động của kinh tế Nhà nước; củng cố kinh tế tập thể theo hướng tập trung phát triển các hợp tác xã hoạt động có hiệu quả; hỗ trợ, khuyến khích kinh tế tư bản tư nhân hoạt động trên tất cả các lĩnh vực mà pháp luật không cấm và nâng cao năng lực cạnh tranh của các doanh nghiệp; khuyến khích đầu tư (FDI) và sản xuất hàng xuất khẩu mà TP có lợi thế, vào các nàgnh công nghiệp chế biến có giá trị gia tăng cao, các ngành công nghệ cao…  

Hình thức: Báo cáo tóm tắt dài 25 trang, báo cáo tổng hợp dài 70 trang.

Lưu trữ trên mạng LAN VKT và Thư viện VKT - VKT 03.04.2005

Năm hoàn thành: HT2005

Xem chi tiết

(1559 Lượt xem)

CÁC TIN BÀI KHÁC:
Ngôn ngữ Ngôn ngữ
English (United States) Tiếng Việt (Việt Nam)
HOẠT ĐỘNG NGHIÊN CỨU KHOA HỌC HOẠT ĐỘNG NGHIÊN CỨU KHOA HỌC
Tin hoạt động khoa học tháng 8 năm 2020 (1/9/2020)

Tin hoạt động khoa học tháng 7 năm 2020 (1/8/2020)

Tin hoạt động khoa học tháng 6 năm 2020 (4/7/2020)


Số lượt truy cập Số lượt truy cập
21460647