NĂNG LƯỢNG - CÔNG NGHIỆP - KHAI KHOÁNG NĂNG LƯỢNG - CÔNG NGHIỆP - KHAI KHOÁNG
Dệt may Việt Nam hậu WTO: thực trạng và những mục tiêu hướng tới!

Thực trạng đặt ra với ngành dệt may Từ tháng 3 năm 2007 Việt Nam bắt đầu thực hiện các cam kết với WTO. Một vấn đề đặt ra là khi cắt giảm thuế nhập khẩu và bỏ hạn ngạch, dệt may Việt Nam liệu có bất lợi trong cạnh tranh?. Theo Nghị định thư gia nhập WTO của Việt Nam, trong toàn bộ biểu thuế gồm 10.689 dòng thuế, Việt Nam sẽ cắt giảm khoảng 3.800 dòng, chiếm 34,5% số dòng thuế của biểu thuế.

Với nhóm hàng dệt - may: nhóm hàng xơ, sợi, thuế suất giảm từ 20% xuống 5%; nhóm hàng vải, thuế suất từ 40% xuống 12%; nhóm quần áo và đồ may sẵn giảm từ 50% xuống 20%...

Việc cắt giảm thuế nhập khẩu như trên cùng với “tự do hóa hạn ngạch”, đã làm cho dệt may Việt Nam gặp khó khi cạnh tranh với các sản phẩm dệt may của Trung Quốc, Ấn Độ, Thái Lan, Hàn Quốc... tràn vào. Hàng dệt may Việt Nam từ đầu năm 2007 tuy có được lợi thế trên thị trường Hoa Kỳ và EU, nhưng lại bất lợi trên thị trường khu vực và ngay trên sân nhà. Theo báo cáo của Hiệp hội dệt may Việt Nam, năm 2006 kim ngạch xuất khẩu đạt 5,834 tỷ USD, trong đó vào thị trường Hoa Kỳ đạt 3,044 tỷ USD (chiếm 52%), EU - 1,243 tỷ USD (chiếm 21%), Nhật Bản - 628 triệu USD (chiếm 11%), ASEAN - 107 triệu USD (chiếm 1,8%)... trong khi đó tại thị trường nội địa hàng dệt may Việt Nam chỉ chiếm 7% tổng mức bán lẻ (1,8 tỷ USD). Như vậy trên thị trường khu vực ASEAN, đặc biệt là thị trường nội địa, hàng dệt may Việt Nam đã lâm vào tình thế “bỏ trống sân nhà”. Cũng theo Hiệp hội dệt may Việt Nam, năm 2006 xuất khẩu của dệt may đạt 5,834 tỷ USD, thì nhập khẩu vải, sợi, bông, phụ liệu... đã ở mức 5 tỷ USD. Chênh lệch chỉ là 0,8 tỷ USD. Mức chênh lệch này chỉ là lấy công làm lãi, vì ngành dệt may Việt Nam có tới 2 triệu lao động (chiếm 24% số lao động công nghiệp) trong 2000 doanh nghiệp dệt may và chưa hạch toán chi tiết chi phí khấu hao máy, thiết bị, nhà xưởng, đất đai... do đó hiệu quả của dệt may Việt Nam cần được đánh giá khách quan và chính xác.

Mặc dù hiện nay Việt Nam đang được xếp hạng ở mức 16/153 nước xuất khẩu dệt may của thế giới; Kim ngạch xuất khẩu được đánh giá là lớn, nhưng lợi nhuận ròng đem lại là rất thấp. Thực tế cho thấy Việt Nam chưa chú trọng đầu tư vùng nguyên liệu cho công nghiệp dệt, mặc dù Việt Nam có điều kiện để phát triển bông xơ, dâu tằm, đay gai... Mặt khác, Việt Nam cũng chưa đầu tư phát triển ngành cơ khí với mục tiêu nội địa hóa những thiết bị cho công nghiệp dệt may; màu nhuộm và hóa chất khác... dệt may phải sử dụng thường xuyên với khối lượng lớn, nhưng chưa được đầu tư đúng mức để nghiên cứu sản xuất. Do đó nguyên liệu, phụ kiện, hóa chất... và hầu hết máy thiết bị cho dệt may của Việt Nam đều gần như phải trông chờ vào nguồn nhập ngoại. Một vài số liệu cụ thể cho thấy: bông xơ sản xuất trong nước mới đảm bảo 5% nhu cầu, sơ sợi tổng hợp - 30%; vải cho công nghiệp may phải nhập 52%, nguyên phụ liệu nhập 34%... hơn thế nữa ngay cả nhiều mẫu mã thiết kế cũng phải nhập ngoại! Vì vậy mà Việt Nam đang trở thành một thị trường hấp dẫn đối với các nước cung cấp nguyên liệu, thiết bị và dịch vụ dệt may trong khu vực và thế giới. Đồng thời, các doanh nghiệp dệt may Việt Nam đang là những đơn vị gia công lớn cho các công ty nước ngoài.

Một thực tế hiện nay, phần lớn các sản phẩm dệt may xuất khẩu làm theo đơn đặt hàng, hoặc mua lại mẫu mã thiết kế của nước ngoài, gia công cho các đối tác. Chưa chủ động trong nghiên cứu thị trường và thiết kế các mẫu mã thời trang theo thị hiếu của người tiêu dùng, hàng bán nội địa phần lớn vẫn sản xuất theo mẫu “truyền thống”. Do đó, hàng dệt may Việt Nam không những không hướng dẫn được tiêu dùng, mà thị phần nội địa bị co hẹp dần bởi hàng dệt may nhập khẩu. Thực trạng này không phải hoàn toàn là lỗi của ngành Mỹ thuật công nghiệp, mà chủ yếu ở định hướng chiến lược đầu tư. Hiệp hội dệt may Việt Nam, đúng hơn là ngành dệt may Việt Nam và Bộ công nghiệp đang thiếu (hay chưa coi trọng) chiến lược này.

Bên cạnh đó, các chính sách và biện pháp trợ giúp quy hoạch vùng nguyên liệu, tạo giống mới về bông, đay, gai,... tạo khả năng kháng bệnh tốt, cho năng suất cao, phù hợp với điều kiện vùng miền Việt Nam, chưa đặt ra cụ thể. Cơ sở hạ tầng cho các vùng nguyên liệu cũng trong điều kiện tương tự. Việc hỗ trợ kỹ thuật về chuyển giao công nghệ và đào tạo nguồn nhân lực cho dệt may, đáng lẽ phải được thực hiện mạnh hơn nhưng cho đến nay Bộ Khoa học và Công nghệ mới đang triển khai xây dựng Chương trình hỗ trợ cụ thể cho từng lĩnh vực. Động thái này ảnh hưởng không nhỏ đối với ngành dệt may.

Trong điều kiện cạnh tranh quyết liệt giữa các quốc gia trong WTO, ngành dệt may Việt Nam phải chịu sức ép của những điều kiện cạnh tranh này. Tuy nhiên, do hàng dệt may của Việt Nam vào các thị trường Hoa Kỳ và EU với khối lượng lớn, nên cơ chế giám sát của họ đối với dệt may Việt Nam, sẽ chặt chẽ hơn.

Để giảm thiểu sự bất lợi này, Ngành dệt may nên đề xuất những chính sách và biện pháp trợ giúp cho các doanh nghiệp của mình để trình Chính phủ. Có như vậy thì ngành dệt may Việt Nam nói chung và Tập đoàn dệt may mới có đủ những điều kiện để phát triển vững chắc. Theo nhận định của nhiều chuyên gia, nếu không có sự cải cách triệt để, Tập đoàn dệt may Việt Nam trong tương lai gần vẫn chỉ là “số cộng” của các doanh nghiệp. Hiện nay, toàn ngành dệt may có khoảng 2.000 doanh nghiệp, trong đó có 27 doanh nghiệp Nhà nước, 1400 công ty cổ phần và tư nhân, khoảng 450 doanh nghiệp FDI. Theo Quyết định 314/2005/QĐ-TTg, ngày 02/12/2005 của Thủ tướng Chính phủ về việc phê duyệt đề án thí điểm thành lập Tập đoàn dệt may, trên cơ sở sắp xếp tổ chức lại Tổng công ty dệt may và các đơn vị thành viên, nhằm tạo ra một tập đoàn kinh tế mạnh. Về nguyên tắc dệt may Việt Nam đã xây dựng tập đoàn (mặc dù đang thí điểm) thì tất cả các doanh nghiệp dệt may và các tổ chức sản xuất - kinh doanh liên quan đến dệt may, như sản xuất nguyên liệu, chế tạo, sản xuất phụ kiện...đều phụ thuộc và bị chi phối bởi Tập đoàn Dệt may về sản xuất kinh doanh, xuất nhập khẩu và cơ chế chính sách tài chính.

Tuy nhiên, kể từ khi Quyết định được ban hành đến nay, Tập đoàn Dệt may Việt Nam và rộng hơn là Ngành dệt may Việt Nam chuyển động quá chậm, độ liên kết trong ngành và đặc biệt giữa các đơn vị trong Tập đoàn còn thiếu chặt chẽ. Chỉ còn 3 năm nữa (đến 2010) Ngành Dệt may phải thực hiện xong 8 chương trình trọng điểm quốc gia, trong đó có chương trình sản xuất nguyên liệu bông xơ. Nhưng cho đến nay dự án chưa triển khai được bao nhiêu và nhập khẩu nguyên liệu vẫn tiếp tục gia tăng. Đặc biệt trong Tập đoàn Dệt may gồm tuyệt đại bộ phận là các công ty dệt và may, hầu như không có đơn vị sản xuất nguyên liệu. Hơn nữa các loại may và phụ kiện cho dệt may cũng không có chương trình phát triển cụ thể. Nếu hai chương trình này (chương trình sản xuất nguyên liệu và chương trình sản xuất máy và phụ kiện) và những chương trình khác mà chính phủ đã duyệt, không được đầu tư, phát triển và thực hiện hiệu quả thì Tập đoàn Dệt may Việt Nam trong tương lai gần chỉ là đơn vị “thu mua tổng hợp” các sản phẩm dệt may được gia công bởi các doanh nghiệp trong ngành để xuất khẩu.

Mục tiêu hướng tới

Mục tiêu đặt ra của ngành dệt may Việt Nam đến 2010 doanh thu đạt từ 13 - 15 tỷ USD, trong đó xuất khẩu đạt từ 10 - 12 tỷ USD. Để đạt được kế hoạch này, Ngành dệt may dự kiến sẽ phá thế gia công hiện nay, thực hiện một chu trình khép kín: “Thời trang – Công nghệ - Thương hiệu”, với 8 chương trình trọng điểm quốc gia. Riêng Tập đoàn Dệt may sẽ thực hiện 15 dự án lớn với tổng vốn đầu tư khoảng 16.000 tỷ đổng (tương đương với 1 tỷ USD). Đồng thời về mặt tổ chức bộ máy, năm 2007 Tập đoàn dệt may sẽ cổ phần hoá tất cả các đơn vị thành viên. Đây là những mục tiêu chiến lược, nếu thực hiện thành công sẽ tạo ra sự đột phá cho ngành dệt may Việt Nam. Tuy nhiên những mục tiêu này cần phải có những giải pháp khả thi. Vì vậy những vấn đề đặt ra đổi với Ngành dệt nay Việt Nam mà chủ yếu là đối với Tập đoàn Dệt may Việt Nam (Vinatex) trong tương lai gần sẽ là:

Thứ nhất, đầu tư xây dựng vùng nguyên liệu bông xơ tập trung lớn, đồng thời có chính sách tài chính thích hợp khuyến khích phát triển các vùng trồng bông, đay, gai,... không tập trung, để từ năm 2015 đảm bảo 60 - 65% nguyên liệu cho dệt và tiến đến xuất khẩu bông xơ. Đặc biệt cần xây dựng các chính sách và biện pháp trợ giúp “ngoài vùng cấm của WTO” đối với các vùng nguyên liệu, tạo điều kiện để các vùng nguyên liệu phục vụ dệt may Việt Nam phát triển vững chắc.

Thứ hai, xây dựng trung tâm công nghiệp có khả năng chế tạo máy, thiết bị và sản xuất các phụ kiện cho Ngành dệt may, để đến 2015 nội địa hoá 50% và sau đó 100% các phụ kiện cho dệt may.

Thứ ba, xây dựng trung tâm nghiên cứu thời trang để trước hết giảm chi phí mua thiết kế mẫu mã của nước ngoài. Sau đó, với thị trường nội địa hướng dẫn được tiêu dùng, để nâng thị phần bán lẻ sản phẩm dệt may trên sân nhà lên ít nhất 85% vào năm 2015 (hiện nay mới chỉ chiếm 7% - 1,8 tỷ USD).

Thứ tư đào tạo và bồi dường nguồn nhân lực mang thương hiệu dệt may Việt Nam. Trước hết là đầu tư vào các trường dạy nghề, để công nhân và cán bộ quản lý dệt may được đào tạo nghề chu đáo. Sau đó, là đảm bảo mức thu nhập hợp lý cho công nhân so với mặt bằng giá cả hiện nay (lương công nhân dệt may của Việt Nam vào loại thấp, kể cả doanh nghiệp FDI so với các ngành công nghiệp tương đồng) đồng thời chú trọng đến đời sống, phúc lợi cho họ, như nhà ở, phương tiện đi lại, văn hoá thể thao,... tạo sự gắn bó lâu dài bền vững của công nhân với doanh nghiệp.

Thứ năm, tạo nguồn tài chính đủ lớn, ổn định vững chắc đầu tư có hiệu quả để phát triển Ngành Dệt may Việt Nam. Nếu không có vốn đầu tư, thì các dự án cũng chỉ dừng ở kế hoạch triển vọng. Do đó tài chính là mấu chốt quyết định tính khả thi của những kế hoạch đã được vạch ra. Từ nay đến năm 2010 và những năm tiếp theo, nhu cầu vốn đầu tư cho dệt may Việt Nam là rất lớn. Nguồn vốn này được huy động từđâu?

Một là, nếu các doanh nghiệp thuộc Vinatex đã hoàn thành cổ phần hoá, thì có thể phát hành cổ phiếu để huy động vốn qua thị trường chứng khoán Việt Nam, hoặc một số thị trường chứng khoán quốc tế.

Hai là, xin phép Chính phủ phát hành trái phiếu ngắn hạn và trung hạn với lãi suất cao hơn lãi suất tiết kiệm của Ngân hàng thương mại Nhà nước, kèm theo một số ưu đãi khuyến khích của Virlatex.

Ba là, lập một số dự án liên doanh, liên kết với nước ngoài về các lĩnh vực đòi hỏi vốn lớn hoặc công nghệ hiện đại, như: sản xuất máy nguyên liệu, phụ kiện,... cho dệt may.

Bốn là, lập đề án trình Chính phủ để liên kết với các Ngân hàng thương mại lớn, thành lập Tập đoàn Tài chính - Dệt may Việt Nam, để giải quyết nhu cầu vốn cho tương lai phát triển lâu dài của dệt may Việt Nam. Với phương châm đa dạng hoá nguồn vốn và với cơ chế tài chính phù hợp, chắc chắn Ngành dệt may Việt Nam sẽ có đủ vốn để hoàn thành các mục tiêu nêu trên.

Biên tập và tổng hợp từ nguồn "TC Tài Chính Doanh Nghiệp 2007"

(7852 Lượt xem)

CÁC TIN BÀI KHÁC:
Ngôn ngữ Ngôn ngữ
English (United States) Tiếng Việt (Việt Nam)
Hoạt động nghiên cứu khoa học Hoạt động nghiên cứu khoa học
Tin hoạt động khoa học tháng 10 năm 2017 (10/11/2017)

Tin hoạt động khoa học tháng 09 năm 2017 (6/10/2017)

Tin hoạt động khoa học tháng 08 năm 2017 (5/9/2017)


Số lượt truy cập Số lượt truy cập
16360647