NĂNG LƯỢNG - CÔNG NGHIỆP - KHAI KHOÁNG NĂNG LƯỢNG - CÔNG NGHIỆP - KHAI KHOÁNG
Sản xuất công nghiệp tăng trưởng khá trong điều kiện rất khó khăn

Năm 2008 là năm đầy thử thách đối với sản xuất công nghiệp (SXCN) Việt Nam do tác động của biến động giá cả thị trường trong nước, thế giới và suy thoái kinh tế toàn cầu. Vượt lên trên tất cả những trở ngại này, SXCN nước ta vẫn đạt mức tăng trưởng khá so với năm 2007, đóng góp vào tăng trưởng xuất khẩu, hạn chế nhập siêu, bảo đảm cung ứng các mặt hàng thiết yếu, không để xảy ra sốt hàng, sốt giá, góp phần kiềm chế lạm phát, ổn định kinh tế vĩ mô, duy trì tăng trưởng và bảo đảm an sinh xã hội.

Duy trì mức tăng trưởng khá

    Sản xuất công nghiệp là một trong những lĩnh vực có tốc độ tăng trưởng cao những tháng đầu năm. Tuy nhiên, do tác động tiêu cực của tình hình kinh tế thế giới nên từ tháng 7 tốc độ tăng trưởng SXCN suy giảm, tốc độ tăng trưởng xuất khẩu từ tháng 8 cũng giảm. Trước tình hình đó, thực hiện chỉ đạo của Chính phủ, ngành công thương tập trung thực hiện các giải pháp kiềm chế lạm phát, ổn định kinh tế vĩ mô, tiếp tục đẩy mạnh sản xuất - lưu thông - tăng cường xuất khẩu.Với sự nỗ lực toàn ngành vượt qua những khó khăn của tình hình biến động giá cả, thị trường, năm 2008, SXCN tiếp tục tăng trưởng, ước tăng 14,6% so với thực hiện năm 2007, trong đó khu vực kinh tế nhà nước tăng 4%, chiếm tỷ trọng 21,4% (giảm 1,1% so với năm 2007); khu vực kinh tế ngoài nhà nước tăng 18,8%, chiếm tỷ trọng 33,1% (tăng 0,1%) và khu vực đầu tư nước ngoài tăng 18,6%, chiếm tỷ trọng 45,6% (tăng 1%).

    Năm 2008, nhiều sản phẩm công nghiệp chủ yếu phục vụ sản xuất, tiêu dùng và xuất khẩu đạt mức tăng trưởng khá so với năm trước như máy công cụ tăng 28,5%; động cơ diesel tăng 18,3%; quần áo người lớn tăng 27,7%; máy giặt tăng 28,6%; sữa bột tăng 18,6%... Ðặc biệt, một số sản phẩm có mức tăng trưởng tương đối cao như dầu thực vật tinh luyện tăng 22,1%; điện sản xuất tăng 11,3% tương ứng với điện thương phẩm tăng 13,4%; động cơ điện tăng 13,3%; ti-vi các loại tăng 11,3%; tủ lạnh, tủ đá tăng 10,9%...

    Nhiều ngành công nghiệp tiếp tục có những đóng góp lớn vào tăng trưởng GDP của cả nước. Ðóng vai trò là ngành kinh tế chủ lực của đất nước với mức đóng góp 26% ngân sách, ngành dầu khí đã và đang phấn đấu vượt qua khó khăn để duy trì tốc độ tăng trưởng. Năm 2008, khoan thăm dò và thẩm lượng 16 giếng, phát hiện dầu khí mới tại các giếng Hổ Xám Nam, Hải Sư Bạc, giếng D14 - Malaysia và ký được 18 hợp đồng dầu khí mới đồng thời đưa năm mỏ mới vào khai thác. Xuất khẩu 13,9 triệu tấn dầu thô với kim ngạch khoảng 10,5 tỷ USD.

    Ngành điện đạt sản lượng điện sản xuất là 73,99 tỷ kWgiờ, tăng 10,8% so với năm 2007, điện thương phẩm ước đạt 65,92 tỷ kWgiờ, tăng 12,8%.

    Ðối với ngành than, năm 2008 thật sự khó khăn cả về sản xuất, kinh doanh, quản lý hoạt động khai thác và quản lý an toàn lao động. Tuy nhiên, sản lượng than sạch ước đạt 39,8 triệu tấn, tiêu thụ cả năm ước khoảng 38,5 triệu tấn, giảm 6,1% so với năm 2007, trong đó tiêu thụ trong nước khoảng 18,5 triệu tấn, bằng 92,5%, kim ngạch xuất khẩu than đạt 1,45 tỷ USD.

    Năm nay là năm đầu ngành thép góp phần vào tăng trưởng kim ngạch xuất khẩu của cả nước với kim ngạch 1,61 tỷ USD. Mặc dù so với năm 2007, sản xuất và tiêu thụ các sản phẩm thép đều giảm do giá cả thế giới biến động, nhưng ngành thép đã góp phần bình ổn giá cả thị trường trong nước những tháng lạm phát cao.

    Ngành cơ khí tiếp tục duy trì mức tăng trưởng khá với nhiều sản phẩm chủ lực của ngành tăng trưởng cao như động cơ diesel tăng 18,3%; máy xay xát tăng 75,5%; phụ tùng máy động lực tăng 91%; phụ tùng xe máy tăng 17,9%... Riêng lĩnh vực cơ khí đóng tàu tiếp tục phát huy được thế mạnh là đầu tàu trong ngành cơ khí.

    Dệt, may là một trong những ngành chịu tác động đầu tiên từ cuộc khủng hoảng kinh tế thế giới. Trong những tháng cuối năm, mặc dù đã đặt hàng và thu xếp nguyên phụ liệu nhưng nhiều nhà nhập khẩu đã tìm cách giảm tiến độ nhận hàng và giảm đơn đặt hàng cho những tháng đầu năm 2009. Từ tháng 10, kim ngạch xuất khẩu của toàn ngành đã giảm khoảng 20% so với các tháng trước, khiến toàn ngành không đạt được kế hoạch, chỉ ước đạt 9,1 tỷ USD, tăng 17,5% so với năm 2007.

    Việc áp thuế bán phá giá giày mũ da của EU, các quy định của Luật nông nghiệp Mỹ, chi phí đầu vào tăng... cũng tiếp tục gây khó khăn cho ngành da giày... Dù chi phí đầu vào của ngành da giày tăng cao, nhưng sản xuất, kinh doanh vẫn có sự tăng trưởng. Kim ngạch xuất khẩu giày dép các loại đạt khoảng 4,7 tỷ USD, tăng 17,6% so với năm 2007.

    Năm 2008, tăng trưởng SXCN tuy không đạt so với kế hoạch đề ra (16,3%), nhưng đã góp phần tăng trưởng xuất khẩu, hạn chế nhập siêu và góp phần kiềm chế lạm phát, ổn định kinh tế vĩ mô, duy trì tăng trưởng, bảo đảm an sinh xã hội, bảo đảm điều tiết cung cầu và bình ổn thị trường kịp thời, nhất là đối với những mặt hàng trọng yếu, không để xảy ra tình trạng thiếu hàng, "sốt giá" trầm trọng và kéo dài.

    Năm 2008, môi trường đầu tư, kinh doanh tiếp tục được cải thiện, công tác xúc tiến đầu tư có hiệu quả, cải cách hành chính có những tiến bộ là những nguyên nhân chính làm cho thu hút vốn đầu tư trực tiếp của nước ngoài của cả nước đạt kết quả vượt trội, nhất là trong lĩnh vực công nghiệp. Trong tổng số 1.171 dự án được cấp phép có hơn 440 dự án đầu tư vào ngành công nghiệp với tổng vốn đăng ký hơn 32,16 tỷ USD (chiếm hơn 55% tổng vốn đăng ký cả nước). Việc khẩn trương hoàn thành và đưa vào hoạt động các dự án quan trọng trong kế hoạch năm 2008 chính là tạo tiền đề chuẩn bị cho sự tăng trưởng của ngành trong năm 2009.

    Tuy đạt được nhiều thành công, nhưng phát triển công nghiệp Việt Nam năm 2008 vẫn còn một số yếu kém, hạn chế. Sức cạnh tranh của sản phẩm công nghiệp còn yếu bởi hàm lượng công nghệ và tri thức chưa cao, giá trị gia tăng thấp. Chưa xây dựng được nhiều thương hiệu nổi tiếng. Các ngành công nghiệp hỗ trợ chưa phát triển, nhất là sản xuất nguyên liệu phục vụ công nghiệp chế biến thay thế nhập khẩu, nhiều nguyên liệu phải nhập khẩu nên bị phụ thuộc vào nhà cung ứng nước ngoài, mất cơ hội kinh doanh và giá cả không ổn định. Các DN chưa tận dụng triệt để cơ hội mang lại khi Việt Nam là thành viên WTO để mở rộng thị trường và nâng cao kim ngạch xuất khẩu. Sức cạnh tranh của hàng hóa xuất khẩu chưa được cải thiện rõ nét. Chủng loại chưa đa dạng, phong phú, số lượng mặt hàng mới có kim ngạch lớn, tăng trưởng nhanh không nhiều. Tình hình thiếu điện, cắt điện vẫn xảy ra, nhất là vào các tháng mùa khô làm cho sản xuất, dịch vụ gặp khó khăn, đặc biệt đối với các DN sản xuất hàng xuất khẩu và các mặt hàng thiết yếu, gây bất bình trong nhân dân và DN.

    Mười nhiệm vụ trọng tâm năm 2009

    Bước sang năm 2009, kinh tế thế giới được dự báo khó khăn hơn năm 2008. Lộ trình hội nhập kinh tế quốc tế của nước ta tiếp tục được đẩy mạnh. Về thuế quan, tiếp tục cắt giảm thuế đối với toàn bộ biểu thuế khoảng 10.600 dòng để đến 2010 sẽ giảm còn 13,4% theo cam kết. Ðối với hàng công nghiệp, mức thuế bình quân sẽ tiếp tục giảm để trong vòng từ bốn đến sáu năm tới chỉ còn 12,6%. Về dịch vụ, bắt đầu thực hiện cam kết mở cửa dịch vụ phân phối hàng hóa cho các DN 100% vốn nước ngoài từ ngày 1-1-2009.

    Nhằm góp phần đạt tốc độ tăng trưởng GDP của cả nước năm 2009 khoảng 6,5%, ngành công thương phải hết sức nỗ lực phấn đấu thực hiện những mục tiêu: Giá trị SXCN tăng 16% so với năm 2008; giá trị gia tăng toàn ngành tăng 9% (công nghiệp và xây dựng tăng 7,4%). Tổng kim ngạch xuất khẩu hàng hóa tăng 13%. Bảo đảm cung ứng các mặt hàng thiết yếu, không để xảy ra sốt hàng, sốt giá, góp phần kiềm chế tăng chỉ số giá tiêu dùng.

    Ðể thực hiên mục tiêu quan trọng này, ngành công thương đề ra mười nhiệm vụ trọng tâm. Ðó là, đẩy nhanh tiến độ đầu tư các công trình trọng điểm quốc gia, bảo đảm cung cấp nhu cầu năng lượng cho nền kinh tế; tập trung phát triển các ngành, sản phẩm có lợi thế cạnh tranh, có hàm lượng công nghệ và giá trị gia tăng cao, các sản phẩm xuất khẩu, phát triển ngành công nghiệp hỗ trợ nhằm tăng dần tỷ lệ nội địa hóa các sản phẩm, cung cấp các loại nguyên liệu, linh phụ kiện, phụ tùng, chi tiết cho sản xuất xuất khẩu và tiêu dùng; tập trung xuất khẩu những sản phẩm chủ lực, những sản phẩm công nghiệp có hàm lượng công nghệ cao, có lợi thế cạnh tranh, sản phẩm chế biến, chế tạo, giảm dần tiến đến xóa bỏ xuất khẩu nguyên liệu, khoáng sản chưa qua chế biến hoặc chế biến thô. Phấn đấu đạt tốc độ tăng trưởng về kim ngạch xuất khẩu là 13% so với năm 2008; kiểm soát nhập siêu, hạn chế nhập khẩu hàng tiêu dùng và những loại vật tư thiết bị trong nước đã sản xuất được có chất lượng và giá cả cạnh tranh; bảo đảm cân đối cung - cầu hàng hóa cho nền kinh tế những mặt hàng trọng yếu như xăng, dầu, thép, phân bón... không để xảy ra tình trạng khan hiếm hàng hóa, sốt giá, sốt hàng hay đầu cơ tích trữ hàng hóa để lợi dụng tăng giá, thực hiện lộ trình giá thị trường một số sản phẩm hàng hóa công nghiệp như điện, than; tăng cường đào tạo nguồn nhân lực, nhất là đào tạo nghề để đáp ứng yêu cầu của sản xuất, của các nhà đầu tư, nâng cao khả năng cạnh tranh của DN; tiếp tục cải cách hành chính, nhất là cải cách thủ tục hành chính trong mọi hoạt động, coi đây là nhiệm vụ đột phá để tạo điều kiện cho DN tiết giảm chi phí; xây dựng các cơ chế chính sách cho phát triển công nghiệp và thương mại, vừa tạo môi trường pháp lý tốt cho các nhà đầu tư, vừa phòng, chống có hiệu quả tình trạng tham nhũng, lãng phí; tiếp tục nâng cao hiệu quả của DNNN, trước hết là các tập đoàn và tổng công; phát huy vai trò trong hoạt động thương mại đa phương, đẩy mạnh đàm phán các thỏa thuận song phương nhằm tạo thuận lợi cho xuất khẩu hàng hóa.

(31/12/2008) - Theo ND

 

 

(1605 Lượt xem)

CÁC TIN BÀI KHÁC:
Ngôn ngữ Ngôn ngữ
English (United States) Tiếng Việt (Việt Nam)
Hoạt động nghiên cứu khoa học Hoạt động nghiên cứu khoa học
Tin hoạt động khoa học tháng 10 năm 2017 (10/11/2017)

Tin hoạt động khoa học tháng 09 năm 2017 (6/10/2017)

Tin hoạt động khoa học tháng 08 năm 2017 (5/9/2017)


Số lượt truy cập Số lượt truy cập
16362847