NĂNG LƯỢNG - CÔNG NGHIỆP - KHAI KHOÁNG NĂNG LƯỢNG - CÔNG NGHIỆP - KHAI KHOÁNG
Báo cáo về tình hình sản xuất kinh doanh ngành công nghiệp tháng 7 và 7 tháng đầu năm 2007

1. Tình hình chung: Tháng 7 năm 2007 giá trị sản xuất công nghiệp (GTSXCN) ước đạt 50.819 tỷ đồng tăng 1,4% so với tháng 6 và tăng 18,7% so cùng kỳ, trong đó khu vực doanh nghiệp nhà nước tăng 14,8%, khu vực ngoài quốc doanh tăng 20,8%, khu vực có vốn đầu tư nước ngoài tăng 19,4% so với cùng kỳ (trong đó Tcty dầu khí giảm 5%, các ngành khác tăng 24%).

Bảy tháng đầu năm 2007 GTSXCN ước đạt 325.940 tỷ đồng tăng 17% đạt mức kế hoạch đề ra cho cả năm 2007 (17-17,2%), trong đó khu vực quốc doanh tăng 9,7% và có tỷ trọng tiếp tục giảm trong GTSXCN cả nước (chiếm 24,3%), khu vực ngoài quốc doanh tăng 20,4% và có tỷ trọng so toàn ngành tiếp tục tăng chiếm 36,4%, khu vực có vốn đầu tư nước ngoài tăng 18,9% (trong đó Tcty dầu khí giảm 4%, các ngành khác tăng 23,7%) chiếm tỷ trọng 39,4% toàn ngành. Việc tăng trưởng cao ở khu vực ngoài quốc doanh ngoài các nguyên nhân về hiệu quả sản xuất kinh doanh và số lượng doanh nghiệp thành lập mới tăng thêm, còn do các doanh nghiệp nhà nước đang tiếp tục chuyển đổi sang mô hình cổ phần và tư nhân hoá.

Bảy tháng đầu năm các sản phẩm đạt mức tăng trưởng cao hơn kế hoạch đề ra cho toàn ngành (17%) gồm: gạch lát tăng 23,2%, thép tấm lá tăng 29,7%, bia các loại tăng 19,6%, ôtô các loại tăng 67,2%, xe máy tăng 29,2%, điều hòa nhiệt độ tăng 57%, tủ lạnh tủ đá tăng 23,8%, quạt điện các loại tăng 25,5%.

Một số sản phẩm có giá trị sản xuất công nghiệp lớn nhưng tăng trưởng thấp hơn kế hoạch toàn ngành như: điện sản xuất tăng 12,2%, thép cán dài các loại tăng 12,8%, ống thép tăng 7,5%, than sạch khai thác tăng 15%, khí đốt thiên nhiên tăng 0,5%, xi măng tăng 10,5%, đường mật tăng 12,5%, sữa đặc có đường tăng 7,1%, bột ngọt tăng 6,6%, vải lụa thành phẩm tăng 11,1%, phân hóa học tăng 16,1%, thuốc lá bao bằng mức cùng kỳ, xà phòng các loại tăng 16,6%, gạch xây tăng 11%, ngói lợp tăng 8%, tivi các loại tăng 8,6%, máy giặt tăng 16,8%, nước máy thương phẩm tăng 7,1%.

Một số sản phẩm giảm so cùng kỳ như: dầu thô khai thác đạt 91,4%, ga hóa lỏng đạt 82,6%.

Theo vùng lãnh thổ bảy tháng đầu năm các tỉnh, thành phố đạt mức tăng trưởng GTSXCN so cùng kỳ cao hơn kế hoạch toàn ngành (17%) gồm: Hà Nội tăng 21,4% (chiếm tỷ trọng 6,9%), Hà Tây tăng 23%, Hải phòng tăng 18,6%, Vĩnh Phúc tăng 53,6%, Bình Dương tăng 25,7%, Đồng Nai tăng 22,6%, Cần Thơ tăng 19,6%.

Một số tỉnh, thành phố chiếm tỷ trọng lớn đạt tỷ lệ tăng trưởng thấp so với kế hoạch toàn ngành hoặc giảm so cùng kỳ gồm: Tp. Hồ Chí Minh tăng 12,3% (chiếm tỷ trọng 26,1%), Phú Thọ tăng 14,9%, Hải Dương tăng 15,4%, Quảng ninh 16,4%, Thanh Hoá tăng 14,8%, Đà Nẵng tăng 10,9%, Khánh Hoà tăng 15,5%, Bà Rịa -Vũng Tàu giảm 1%.

- Về tình hình thị trường: hiện nay giá cả nguyên vật liệu có chiều hướng tăng:

+ Giá dầu thô thường xuyên dao động và hiện ở mức trên 70 USD/thùng có lợi cho kim ngạch xuất khẩu dầu thô, nhưng đồng thời làm giá các mặt hàng nhập khẩu xăng dầu cho tiêu dùng trong nước cũng tăng theo (hiện tại giá xăng 92 vẫn ở mức 11.800 đ/lít) gây ảnh hửơng tiêu cực đến sản xuất và tăng chi phí vận tải.

+ Giá phôi thép nhập khẩu tăng cao ở mức 500-520 USD/tấn nên giá thép xây dựng trong nước tăng ở mức 9,4-9,7 triệu đ/tấn (một phần là do giá điện tăng và không còn ưu đãi cho ngành thép trong lĩnh vực này), đỗi với một số chủng loại thép tấm, lá nhập khẩu từ Trung Quốc giá tiếp tục tăng (giá CIF Hải phòng từ 600-650 USD/tấn) do Chính phủ Trung Quốc bỏ hoàn thuế VAT 5% đối với thép xuất khẩu và áp thuế xuất khẩu 5% kể từ tháng 6/2007 dẫn đến việc tăng giá trong nước đối với chủng loại thép này.

+ Trong năm 2007, giá một số sản phẩm quan trọng là đầu vào của các ngành khác như điện, than đã được điều chỉnh tăng và có thể sẽ còn tiếp tục ảnh hưởng đến mức tăng trưởng chung của ngành công nghiệp trong thời gian tới.

- Về tốc độ tăng GTSXCN chung toàn ngành khá cao trong khi các sản phẩm công nghiệp chính được liệt kê có tốc độ tăng chưa tương xứng có thể được lý giải do nhiều sản phẩm có tốc độ tăng cao chưa được đưa vào danh mục thống kê sản phẩm theo tháng của Tổng cục thống kê như các sản phẩm cơ khí (khung nhà, khung kho), đóng tàu, điện tử (máy vi tính và linh kiện), sản phẩm gỗ, sản phẩm nhựa, dây và cáp điện, thủy sản chế biến (được thể hiện qua tốc độ tăng trưởng xuất khẩu).

2. Tình hình cụ thể các ngành:

- Bảy tháng đầu năm 2007 điện sản xuất và mua ước đạt 37,7 tỷ kwh (trong đó thủy điện chiếm 26,2%) tăng 12,2% so cùng kỳ, điện mua ngoài tổng công ty chiếm 27,3% toàn ngành đạt trên 10,3 tỷ Kwh tăng 42% so với cùng kỳ. Điện thương phẩm 7 tháng đạt 32,8 tỷ kwh tăng 13,5% so cùng kỳ, trong đó điện cho công nghiệp chiếm 49%.

Trong tháng 7 nước về nhiều nên các nhà máy thủy điện phát huy hết công suất (đồng thời hồ Hòa Bình phải xả nước qua 3 cửa xả), một số nhà máy nhiệt điện chạy khí và than đã khắc phục sự cố và đi vào sản xuất nên tình hình thiếu điện giảm.

- Dầu thô khai thác đạt 9 triệu tấn giảm 8,6% so cùng kỳ. Khí thiên nhiên đạt 4,4 tỷ m3 tăng 0,5% so cùng kỳ.

- Than sạch khai thác đạt trên 24,2 triệu tấn tăng 15% so cùng kỳ, trong đó ước xuất khẩu 19,1 triệu tấn (chiếm 80% sản lượng khai thác).

- Thép cán dài đạt trên 3 triệu tấn tăng 12,8% so cùng kỳ, thép cán dẹt đạt 219 nghìn tấn tăng 30%. Nguyên nhân tăng trưởng cao do nhu cầu thị trường tăng cao do vào mùa xây dựng và các nhà máy mới hoàn thành đi vào sản xuất ổn định như: Nhà máy thép Phú Mỹ, thép cán nguội Phú Mỹ, dây chuyền cán thép của Công ty Gang thép Thái nguyên, một số nhà máy luyện phôi và cán thép ở khu vực ngoài quốc doanh như Vạn Lợi, Đình Vũ, Hòa phát, Cửu long.

- Xi măng đạt 17,5 triệu tấn tăng 10,5% so cùng kỳ, trong năm nay có một nhà máy mới hoàn thành đi vào sản xuất: xi măng Vinakansai (0,9 triệu tấn/năm).

- Phân hoá học (chưa tính phân NPK) đạt gần 1,4 triệu tấn tăng 16,1% so cùng kỳ.

- Bia đạt trên 1 tỷ lít đạt mức tăng trưởng cao 19,6% do nhu cầu tăng cao.

- Vải lụa thành phẩm đạt 329 triệu m tăng 11,1%, sợi các loại đạt trên 2,1 triệu tấn tăng 21,9%.

3. Về xuất nhập khẩu:

a. Xuất khẩu:

Bảy tháng đầu năm kim ngạch xuất khẩu cả nước ước đạt 26,8 tỷ USD tăng 19,6% so cùng kỳ, trong đó hàng công nghiệp khoảng 20 tỷ USD. Một số mặt hàng công nghiệp xuất khẩu chủ yếu gồm: dầu thô đạt 8,8 triệu tấn giảm 8%; than đá đạt 19,1 triệu tấn tăng 23,6%; hàng dệt may đạt trên 4,2 tỷ USD tăng 28,6%; hàng giày dép đạt trên 2,36 tỷ USD tăng 14,4%; sản phẩm gỗ đạt trên 1,3 tỷ USD tăng 25,4%; hàng điện tử, vi tính và linh kiện đạt trên 1 tỷ USD tăng 24,6%; túi xách, vali, mũ và ô dù đạt 375 triệu USD tăng 28,4%; dây và cáp điện đạt 578 triệu USD tăng 48%; sản phẩm nhựa đạt 374 triệu USD tăng 49%; xe đạp và phụ tùng đạt 49 triệu USD giảm 37%; thủy sản chế biến đạt gần 2 tỷ USD tăng 14,5%.

Riêng xe đạp xuất khẩu giảm do các đơn hàng xuất khẩu dự kiến đã không ký kết được với các đối tác nước ngoài.

b. Nhập khẩu:

Bảy tháng đầu năm kim ngạch nhập khẩu cả nước ước đạt 32,2 tỷ USD tăng 30% so cùng kỳ chủ yếu là nguyên liệu và máy móc thiết bị phục vụ sản xuất trong nước.

Một số mặt hàng công nghiệp nhập khẩu chủ yếu gồm: xăng dầu các loại đạt 7,5 triệu tấn tăng 12%; phân bón đạt 2,1 triệu tấn tấn tăng 14% (trong đó phân urê 363 nghìn tấn giảm 19%); thép các loại 4 triệu tấn tăng 24,3% (trong đó phôi thép 1,1 triệu tấn tăng 0,2%); giấy các loại 459 nghìn tấn tăng 10%; bông các loại 130 nghìn tấn tăng 23%; sợi các loại 239 nghìn tấn tăng 25%; ôtô nguyên chiếc 9792 cái tăng 34%; linh kiện ôtô 402 triệu USD tăng 72%; linh kiện xe máy 330 triệu USD tăng 35,6%; chất dẻo nguyên liệu 889 nghìn tấn tăng 17,6%; máy tính và linh kiện điện tử, vi tính 1,5 tỷ USD tăng 64%; máy móc, thiết bị và phụ tùng 5 tỷ USD tăng 42,2%; hóa chất các loại 760 triệu USD tăng 40,6%; nguyên liệu dệt may da trên 1,2 tỷ USD tăng 7%; vải các loại 2,2 tỷ USD tăng 32%.

Nguyên nhân nhập khẩu nguyên liệu, vật tư tăng cao nhằm đáp ứng nhu cầu cho sản xuất trong nước tăng trưởng cao của các ngành cán thép, đóng tàu, cơ khí, lắp ráp ôtô, xe máy, giấy, lắp ráp điện tử, sản phẩm nhựa.

Biên tập và tổng hợp từ nguồn "Vụ Kinh tế công nghiệp - Bộ Kế hoạch và Đầu tư"

(989 Lượt xem)

CÁC TIN BÀI KHÁC:
Ngôn ngữ Ngôn ngữ
English (United States) Tiếng Việt (Việt Nam)
Hoạt động nghiên cứu khoa học Hoạt động nghiên cứu khoa học
Tin hoạt động khoa học tháng 10 năm 2017 (10/11/2017)

Tin hoạt động khoa học tháng 09 năm 2017 (6/10/2017)

Tin hoạt động khoa học tháng 08 năm 2017 (5/9/2017)


Số lượt truy cập Số lượt truy cập
16373481