NĂNG LƯỢNG - CÔNG NGHIỆP - KHAI KHOÁNG NĂNG LƯỢNG - CÔNG NGHIỆP - KHAI KHOÁNG
Phát triển công nghiệp phụ trợ Việt Nam: Trước làn sóng đầu tư mới của các công ty xuyên quốc gia Nhật Bản (Phần 2)

II. NGÀNH CÔNG NGHIỆP PHỤ TRỢ VIỆT NAM
2. Phát triển công nghiệp phụ trợ
a. TNCs Nhật Bản “chảy” vào Việt Nam

Trong khu vực Châu Á – Thái Bình Dương, hơn 10 năm trước dã xuất hiện một làn sóng đầu tư từ TNCs Nhật Bản, nhưng chúng ta đã bỏ lỡ mất cơ hội. Song hiện nay, một cơ hội mới đang đến, nếu biết nhanh chóng nắm bắt thì có thể khắc phục được sự lỡ nhịp trước đây và tạo ra một sự bùng nổ về FDI ở Việt Nam. Các nhà đầu tư Nhật Bản đang chú ý nhiều hơn tới thị trường Việt Nam. Sau một thời gian đầu tư ồ ạt vào Trung Quốc, nhiều TNCs Nhật Bản thấy rằng không nên quá tập trung vào một thị trường, mà cần phân tán các cơ sở sản xuất sang các nước khác để hạn chế rủi ro. Xu hướng này bắt đầu hình thành từ 2003, nhưng từ 2005 đến nay đã trở thành một xu hướng lớn, rõ rệt khi quan hệ Nhật – Trung bước vào giai đoạn căng thẳng làm cho TNCs Nhật Bản phải đẩy nhanh hơn quá trình tái cấu trúc mạng lưới sản xuất châu Á, mà trọng tâm là phân tán đầu tư từ Trung Quốc sang các nước khác.

Chỉ tính riêng năm 2005, Việt Nam đã cấp giấy phép cho 970 dự án FDI với tổng số vốn đăng ký 6.839,8 triệu USD, mức đăng ký vốn cao nhất kể từ 1996, riêng các nhà đầu tư đến từ xứ sở hoa anh đào có 114 dự án, tổng số vốn đầu tư 945,3 triệu USD, trong đó vốn cấp mới 458 triệu USD, vốn tăng thêm 487,3 triệu USD (6). Tính từ năm 1988 đến cuối tháng 8/2006, Nhật Bản dã có 677 dự án đầu tư trực tiếp còn hiệu lực tại Việt Nam với tổng số vốn đăng ký 6,8 tỷ USD, đứng thứ 3 trong các nước và vùng lãnh thổ có vốn đầu tư tại Việt Nam, nhưng đứng đầu về vốn đầu tư thực hiện (7). Các công ty Nhật Bản đã bắt đầu xem Việt Nam là “cứ điểm” thứ hai bên cạnh Trung Quốc. Không chỉ là sự phân tán rủi ro ở Trung Quốc mà ngày càng xuất hiện những doanh nghiệp đặt trung tâm tại Việt Nam. Các doanh nghiệp cỡ vừa cũng đã chuyển “cứ điểm” từ Trung Quốc sang Việt Nam. Còn các doanh nghiệp vừa và nhỏ, doanh nghiệp lần đầu tiên đầu tư ra nước ngoài của Nhật Bản, đã quyết định không đầu tư ở Trung Quốc mà đầu tư thẳng sang Việt Nam.

Có thể nói năm 2006 là năm đột phá đánh dấu bước chuyển lớn về đầu tư của các công ty Nhật Bản ở Việt Nam. Làn sóng đầu tư thứ hai của Nhật Bản vào Việt Nam đã được bắt đầu. Trước hết được thể hiện ở các dự án mới và các dự án tăng vốn lớn của TNCs hàng đầu Nhật Bản trong năm 2005 và năm 2006. Các dự án của Canon, Honda, Panasonic, TOTO, SEI, đặc biệt Dự án Vân Phong (Khánh Hòa) của Tập đoàn Sumitomo xây dựng một khu kinh tế tổng hợp với tổng vốn có thể lên tới 600 triệu USD là bằng chứng sống động về hiệu quả đầu tư ở Việt Nam của các TNCs Nhật Bản. Sau cuộc viếng thăm Nhật Bản của Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng từ 18 đến 21 tháng 10/2006, nhiều thỏa thuận đầu tư và xúc tiến đầu tư đã được ký kết. Trong đó thỏa thuận của Bộ Kế hoạch và Đầu tư với Tập đoàn Sumitomo về hợp tác xúc tiến đầu tư có ý nghĩa vô cùng quan trọng. Theo thỏa thuậnd được ký, Bộ Kế hoạch và Đầu tư và Tập đoàn Sumitomo sẽ trao đổi thường xuyên các thông tin liên quan đến chính sách, luật pháp và môi trường đầu tư tại Việt Nam, trên cơ sở đó Sumitomo sẽ cung cấp các thông tin này cho các nhà đầu tư Nhật Bản đang và chuẩn bị đầu tư vào Việt Nam. Đồng thời Sumitomo cũng là đơn vị tập hợp tất cả ý kiến, kiến nghị của các nhà đầu tư Nhật Bản liên quan đến môi trường đầu tư của Việt Nam để chuyển đến Bộ Kế hoạch và Đầu tư. Ngoài ra, hai bên cũng hợp tác để tổ chức các chương trình xúc tiến đầu tư tại Nhật Bản cũng như tại Việt Nam nhằm thu hút thêm các nhà đầu tư mới đến Việt Nam. Sự thay đổi quan trọng trong tư duy tiếp thị cùng với cam kết cải thiện môi trường đầu tư của người đứng đầu Chính phủ Việt Nam đã khẳng định Việt Nam luôn mở rộng cửa chào đón các nhà đầu tư Nhật Bản và Nhật Bản là đối tác bền vững của Việt Nam. “Làn sóng đầu tư thứ hai đã hình thành” – đó là lời khẳng định tại Hội thảo đầu tư Việt Nam tại Tokyo ngày 19/10/2006 của Chủ tịch JETRO Atsuo Watanabe. Tháng 12/2006, JETRO đã tổ chức một đoàn doanh nghiệp lớn của Nhật Bản tới Việt Nam. Từ kết quả hội đàm của người đứng đầu hai chính phủ về việc hai nước xây dựng mối quan hệ đối tác chiến lược, về việc hai bên nhất trí triển khai giai đoạn hai Sáng kiến chung Việt – Nhật, chính thức khởi động vòng đàm phán về hiệp định thương mại và đầu tư tự do từ đầu năm 2007.

Hàng loạt cuộc tiếp xúc dày đặc của các tập đoàn và công ty Nhật Bản mà trong Hội thảo Tokyo đã vượt quá con số 300 doanh nghiệp đăng ký ban đầu. Còn tại Hội thảo Osaka cũng có hơn 300 doanh nghiệp tham dự cho thấy mức độ quan tâm tới thị trường Việt Nam của các doanh nghiệp Nhật Bản. Ngoài các doanh nghiệp Nhật Bản đã thành công ở Việt Nam, tham gia hội thảo còn có nhiều nhà đầu tư mới. Sự quan tâm này cho thấy hiệu ứng đầu tư tại Việt Nam đã và đang tác động trong cộng đồng doanh nghiệp Nhật Bản.

Lãnh đạo Tập đoàn Ngân hàng Mizuo Hiroshi Saito, ngân hàng lớn thứ 10 trên thế giới đã đưa ra dự báo trong buổi tiếp kiến Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng: hiện nay có khoảng 3.000 công ty Nhật Bản đầu tư ở Trung Quốc và 300 công ty đầu tư tại Ấn Độ; còn tại Việt Nam là 700 công ty. Tuy nhiên, con số này sẽ là 1.200 công ty trong vài năm tới, và sẽ lên đến 2.000 công ty trong tương lai.

b. Phát triển công nghiệp phụ trợ Việt Nam

Kết quả điều tra của JETRO ngày 4/5/2006 cho thấy: 56% các nhà đầu tư Nhật Bản trong cuộc điều tra đã chọn Việt Nam vì chi phí sản xuất thấp. Ngoài  ra, sự phát triển kinh tế Việt Nam trong những năm gần đây tương tự với hoàn cảnh của Trung Quốc tại thời điểm các nhà đầu tư Nhật Bản nói trên bắt đầu tới làm ăn. Gần đaya, các nhà đầu tư Nhật Bản đã mở rộng địa bàn hoạt động ở Trung Quốc, tập trung nhiều nhất vào các ngành sản xuất linh kiện máy móc vận tải (23%) và linh kiện điện, điện tử (18%) nay sẽ chuyển sang  Việt Nam.

Để thu hút có hiệu quả FDI của TNCs Nhật Bản, Việt Nam cần giải quyết bài toán “phát triển ngành công nghiệp phụ trợ cùng với việc tháo gỡ các vướng mắc khác đang tồn tại ở ngành này” – chính là chìa khóa để Việt Nam có thể đón bắt được làn sóng đầu tư mới của Nhật Bản.

Hiện nay, Bộ Công nghiệp đang xây dựng một chiến lược phát triển công nghiệp hỗ trợ Việt Nam. Theo đó, tập trung cho những lĩnh vực chính mà Việt Nam có khả năng phát triển sớm cũng như thu hút nguồn vốn FDI lớn của TNCs Nhật Bản: ô tô, xe máy; điện tử và công nghệ thông tin; dệt may và các lĩnh vực sản xuất hàng tiêu dùng. Tuy nhiên, ngoài quyết tâm của Chính phủ, cần có nỗ lực rất lớn trong liên kết, tập hợp doanh nghiệp, phân công chuyên môn hóa hợp lý. Nỗ lực này không chỉ đòi hỏi sự quyết tâm của Chính phủ trong việc ban hành những chính sách hỗ trợ, mà bản thân các doanh nghiệp cũng phải tự vươn lên, sản xuất ra những linh kiện, phụ tùng đáp ứng yêu cầu chất lượng của các đối tác lớn nước ngoài đặt ra.

Hiện nay, đứng trước sự yếu kém của ngành công nghiệp phụ trợ, mũi đột phá là phải tập trung năng lực vật chất để giải quyết. Tuy nhiên, thúc đẩy sự phát triển của ngành công nghiệp phụ trợ trước hết đòi hỏi Chính phủ Việt Nam phải có khuôn khổ chính sách phù hợp và sự hỗ trợ đúng mức từ các đối tác Nhật Bản. Để làm được điều đó, Sáng kiến chung Việt Nam – Nhật Bản trở thành chỗ dựa quan trọng. Nhưng điều quan trọng hơn là sự sẵn sàng của các doanh nghiệp, kể cả doanh nghiệp nhà nước và doanh nghiệp tư nhân trong phát triển những công nghệ mới phù hợp với nhu cầu về sản phẩm phụ trợ do đầu tư mới đặt ra. Trước mắt, cần rà soát lại các doanh nghiệp nhà nước để tìm ra các đơn vị sản xuất có tiềm năng cung cấp các bộ phận, linh kiện, phụ kiện với chất lượng và giá thành cạnh tranh, từ đó tăng cường hỗ trợ về vốn, công nghệ để tiềm năng trở thành hiện thực. Chính phủ phải có chế độ khuyến khích thỏa đáng cho các doanh nghiệp, kể cả doanh nghiệp tư nhân và doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài thành công trong việc sản xuất và cung cấp sản phẩm công nghiệp phụ trợ đạt hiệu quả và chất lượng tốt.

Để phát triển ngành công nghiệp phụ trợ, kinh nghiệm của nhiều quốc gia cho thấy cần áp dụng biện pháp nâng cao thuế suất linh kiện nhập khẩu, nhưng chính sách này phải đồng thời gắn với chính sách bảo hộ sản phẩm nguyên chiếc. Trong điều kiện hiện nay của Việt Nam, không thể bảo hộ sản phẩm nguyên chiếc thì cần phải thực thi một hướng khác. Chính sách tối ưu hiện nay là nhanh chóng tăng năng lực cạnh tranh để xuất khẩu được sản phẩm nguyên chiếc, từ đó quy mô sản xuất trong nước tăng nhanh, tạo điều kiện để các doanh nghiệp cung cấp sản phẩm công nghiệp phụ trợ đầu tư mở rộng sản xuất. Hầu hết các sản phẩm ô tô, xe máy, đồ điện, điện tử gia dụng là những hàng hóa được sản xuất bởi nhiều công đoạn, do đó nên có sự phân công theo hàng ngang giữa các doanh nghiệp trong việc sản xuất và cung cấp cho nhau các linh kiện, bộ phận. Tuy nhiên, phần lớn các dây chuyền công nghệ sản xuất đã được tiêu chuẩn hóa, do đó các doanh nghiệp có xu hướng tích cực gia tăng tỷ lệ nội hóa linh kiện, bộ phận khi sản xuất đạt đến quy mô lớn. Mặt khác, khi sản phẩm hoàn chỉnh được sản xuất cho cả thị trường quốc tế thì các công ty lắp ráp phải thường xuyên thay đổi tính năng, mẫu mã, kiểu dáng sản phẩm. Điều đó buộc các doanh nghiệp phải luôn luôn duy trì một sự cơ động, mềm dẻo trong việc quản lý dây chuyền cung cấp các sản phẩm phụ trợ, tăng tỷ lệ nội hóa, chủ động tham gia xây dựng các cụm công nghiệp. Ngay từ bây giờ  Việt Nam phải chủ động chuyển sang chiến lược hướng ngoại, cho phép tự do nhập khẩu linh kiện, bộ phận và đẩy mạnh xuất khẩu sản phẩm nguyên chiếc. Sau khi hoàn thành Chương trình thực hiện AFTA, chính sách thay thế nhập khẩu hiện nay sẽ phải thay đổi nhưng đó là sự thay đổi thụ động và chỉ áp dụng với các nước thành viên ASEAN. Tuy Việt Nam đã gia nhập WTO, nhưng cũng không bắt buộc Việt Nam thay đổi chính sách bảo hộ bằng thuế. Trong điều kiện toàn cầu hóa và khu vực hóa, phải có chiến lược mới và chính sách, biện pháp thích hợp để phát triển ngành công nghiệp phụ trợ.

Một chính sách dài hạn, toàn diện đối với các ngành công nghiệp ô tô, xe máy, đồ điện, điện tử dân dụng… cần được hình thành ở Việt Nam, trong đó đặc biệt phải có chương trình thu hút và phát triển các cơ sở sản xuất và cung cấp phụ tùng và nguyên vật liệu. Trong các giai đoạn phát triển của những ngành này, các chính sách khuyến khích phát triển công nghiệp trong nước là hết sức quan trọng.

Kết quả của một cuộc điều tra mới đây cho thấy, có tới 70% doanh nghiệp FDI ở Việt Nam phải nhập nguyên vật liệu từ nước ngoài. Trong khi đó một trong những nguyên nhân khiến Trung Quốc thu hút FDI từ Nhật Bản nhiều và liên tục là vì công nghiệp phụ trợ trong nước của họ kết nối tốt với khu vực FDI, điều mà các nhà đầu tư rất cần, vì họ có thể giảm được giá thành sản phẩm. Ở Việt Nam, để khắc phục tình trạng khép kín, ngăn cách giữa doanh nghiệp trong nước với các doanh nghiệp FDI, cần phải có mặt bằng kinh doanh bình đẳng. Luật đầu tư và Luật doanh nghiệp 2005 có hiệu lực từ ngày 1/7/2006 sẽ làm cho thể chế kinh tế thị trường ở nước ta hoàn thiện, phù hợp hơn với nguyên tắc của kinh tế thị trường, đồng thời nó sẽ khuyến khích mạnh mẽ đầu tư của nước ngoài vào Việt Nam. Xét về lâu dài, Luật đầu tư và Luật doanh nghiệp 2005 cũng sẽ tạo thuận lợi, phát huy các nguồn lực của các nhà đầu tư trong nước. Bên cạnh đó, doanh nghiệp nội địa và doanh nghiệp FDI cũng cần có những diện đàn đối thoại để hai bên đưa ra những mục tiêu, lĩnh vực cụ thể và tháo gỡ những vướng mắc, khó khăn.

Việc đầu tư phát triển sản xuất sản phẩm phụ trợ thường phải đối mặt với nhiều bất trắc, rủi ro, chính vì vậy, giữa nhà sản xuất và lắp ráp cần phải có cam kết như cung cấp tư vấn, thiết bị, kỹ thuật của chính hãng để các cơ sở cung cấp linh kiện có niềm tin, an tâm đầu tư mở rộng sản xuất. Cũng cần nhận thức rằng, mỗi doanh nghiệp nên có sự linh hoạt, năng động để tìm lối đi riêng phù hợp với mình. Không thể đòi hỏi nhà lắp ráp tìm đến mình, hoặc thấy họ không có thông tin phản hồi về sản phẩm mà nản lòng không quyết định đầu tư. Các nhà lắp ráp chỉ trả tiền cho những sản phẩm đúng với giá trị thực của nó, với chất lượng cao, thời gian giao hàng chuẩn.

Một yếu tố không thể thiếu khi hợp tác với các doanh nghiệp Nhật Bản, đó là doanh nghiệp phải có chứng chỉ ISO 9000 và ISO 14000. Trong quá trình hợp tác, cần phải thẳng thắn, trung thực, thực hiện nghiêm chỉnh những điều cam kết. Đối với các doanh nghiệp Việt Nam, đây thực sự là một vấn đề khó nhưng dứt khoát phải thực hiện bằng được.

Những vấn đề đặt ra đối với sự phát triển của công nghiệp phụ trợ Việt Nam trước làn sóng đầu tư thứ hai đến từ Nhật Bản chỉ có thể được giải quyết bằng chính sự nỗ lực giữa Chính phủ, các tổ chức có liên quan và sự hợp tác của các doanh nghiệp Việt Nam và Nhật Bản.

Chú thích:

(6). http://www.fdivietnam.com.vn

(7)(8). http://www.vneconomy.com.vn

PGS.TS. TRẦN QUANG LÂM
Học viện CTQG Hồ Chí Minh
ThS. ĐINH TRUNG THÀNH
Đại học Vinh

Biên tập và tổng hợp từ nguồn "TC KTCA-TBD số 22/2007"

(3612 Lượt xem)

CÁC TIN BÀI KHÁC:
Ngôn ngữ Ngôn ngữ
English (United States) Tiếng Việt (Việt Nam)
Hoạt động nghiên cứu khoa học Hoạt động nghiên cứu khoa học
Tin hoạt động khoa học tháng 10 năm 2017 (10/11/2017)

Tin hoạt động khoa học tháng 09 năm 2017 (6/10/2017)

Tin hoạt động khoa học tháng 08 năm 2017 (5/9/2017)


Số lượt truy cập Số lượt truy cập
16363366