Ý KIẾN CHUYÊN GIA Ý KIẾN CHUYÊN GIA
Hình thành ý tưởng - nhận diện vấn đề nghiên cứu

Hàng năm, cán bộ nghiên cứu phải lên kế hoạch nghiên cứu cho phòng mình; trên cơ sở kế hoạch nghiên cứu của mỗi phòng, lãnh đạo Viện chọn lọc những vấn đề khả thi, thực tế và mang tính thời sự nhất để lên kế hoạch nghiên cứu chung cho Viện. Đứng trước yêu cầu là các vấn đề nghiên cứu phải mang tính hệ thống; kết quả nghiên cứu phải được ứng dụng cao để giải quyết các đòi hỏi thực tiễn của thành phố trong quá trình phát triển kinh tế – xã hội (cụ thể hơn là các chỉ tiêu phát triển kinh tế – xã hội của thành phố), tôi xin đóng góp một vài ý kiến trong việc hình thành các ý tưởng nghiên cứu.

 

I. YÊU CẦU CỦA CÁC ĐỀ TÀI NGHIÊN CỨU

 Các sản phẩm nghiên cứu phải đạt được các yêu cầu sau:

- Trước khi vấn đề thực tiễn được đặt ra: kết quả nghiên cứu phải đón đầu được các vấn đề cần giải quyết trong thực tế, làm cơ sở để giải quyết các vấn đề thực tiễn. Theo đó, các đề tài không nhất thiết phải nghiên cứu một vấn đề hoàn toàn mới, mà có thể là các vấn đề đã nghiên cứu rồi, nhưng trong điều kiện và môi trường mới thì phương pháp tiếp cận và giải quyết vấn đề sẽ có những tiến bộ hơn so với những gì đã thực hiện trước đó.

- Tính ứng dụng cao: đây là một trong những mục tiêu quan trọng của một đề tài nghiên cứu ứng dụng (khác với một đề tài nghiên cứu lý luận). Ở đây, một đề tài mang tính ứng dụng đòi hỏi nội dung nghiên cứu phải sát với diễn biến thực tế và gắn chặt với điều kiện kinh tế – xã hội của một quốc gia hay một địa phương. Và các vấn đề được giải quyết trong đề tài phải được đặt trong khả năng (vốn, nhân lực, khoa học, kỹ thuật,…) của địa phương hay quốc gia đó.

- Phù hợp chủ trương của Đảng và Nhà nước: mặc dù khi nghiên cứu một vấn đề nào đó, nhà nghiên cứu phải nhìn vấn đề một cách khách quan ở mọi góc độ khác nhau. Tuy nhiên, cũng cần xác định là các chủ trương chung của Đảng và Nhà nước là hoàn toàn đúng đắn. Vì vậy, khi nghiên cứu một vấn đề nào đó thì không thể thoát khỏi định hướng chung của quốc gia, do đó, phương pháp giải quyết vấn đề phải được đặt trong định hướng chung đó. 

 

II. PHƯƠNG THỨC TIẾN HÀNH

 

2.1 Các căn cứ để xác định vấn đề nghiên cứu:

 

- Xuất phát từ mục tiêu của Đại hội Đảng Cộng Sản Việt Nam, Đại hội Đảng bộ thành phố (mục tiêu dài hạn), Nghị quyết hàng năm của Hội đồng nhân dân thành phố (mục tiêu ngắn hạn) về các chỉ tiêu phát triển kinh tế – xã hội, các nhóm vấn đề nghiên cứu lần lược được đặt ra, nhằm giải quyết những đòi hỏi thực tiễn tại địa phương đồng thời đáp ứng được các chỉ tiêu đã chung đề ra.

- Xuất phát từ chức năng tham mưu cho Thành ủy và UBND thành phố, công việc tham mưu của Viện nghiên cứu phát triển có thể được chia ra làm 2 mảng chính:

+ Tham gia xây dựng và tổng kết các Nghị quyết của Đảng.

+ Tham mưu cho UBND trong việc giải quyết các vấn đề phát triển kinh tế – xã hội.

Để có những nghiên cứu mang tính ứng dụng cao, đi trước thực tiễn và phù hợp với chủ trương chung của Đảng và Nhà nước, các đề tài nghiên cứu của Viện sẽ xoáy vào hai nhiệm vụ này.

 

2.2 Các bước triển khai

 

b1/ Hình thành nhóm vấn đề cần nghiên cứu trong các lĩnh vực: trên cơ sở các chỉ tiêu đã đề ra (Nghị quyết Đại hội Đảng bộ thành phố, Nghị quyết Hội đồng nhân dân hàng năm), các nhóm vấn đề nghiên cứu được hình thành để đạt được mục tiêu cuối cùng là đáp ứng được các chỉ tiêu này. Các nhóm vấn đề được bố trí theo dạng hình xương cá để thấy rõ tác động có hệ thống lên chỉ tiêu nghiên cứu chung của địa phương hay của cả nước. Từ đó mới thấy rõ vì sao phải đặt ra các vấn đề để nghiên cứu và giải quyết.

- Đối với lĩnh vực kinh tế – tài chính:

 

 - Tương tự đối với lĩnh vực xã hội, chúng ta hình thành mục tiêu chung, từ đó, phát triển các vấn đề cần nghiên cứu để đạt được mục tiêu chung đó.

 

Tất cả các vấn đề được đặt ra trong từng lĩnh vực (kinh tế hoặc xã hội) đều có mối liên hệ mật thiết với nhau. Chẳng hạn như trong lĩnh vực kinh tế, vấn đề đầu tư và tiết kiệm gắn kết với nhau rất chặt. Nếu tiết kiệm tăng thì đầu tư giảm (xét vào một thời điểm nào đó) và ngược lại. Và mối liên hệ này sẽ kéo theo hàng loạt vấn đề cần giải quyết khác: chính sách lãi suất, cung tiền, tăng cường khả năng huy động nguồn vốn trong và ngoài nước,…

Ngoài mối liên hệ bên trong từng lĩnh vực kinh tế hoặc xã hội thì hai lĩnh vực này (kinh tế và xã hội) cũng có liên hệ mất thiết với nhau. Sự dung hòa các chỉ tiêu phát triển trong hai lĩnh vực này nói lên chất lượng của việc phát triển kinh tế. Vì vậy, ngoài việc nghiên cứu các khía cạnh trong từng lĩnh vực một thì cũng cần nhấn mạnh nghiên cứu đến các vấn đề liên quan giữa lĩnh vực xã hội và kinh tế.

Cơ chế, chính sách là mảng bao trùm tất cả hai lĩnh vực kinh tế và xã hội. Mỗi vấn đề trong từng lĩnh vực phải được điều chỉnh bởi những chính sách và cơ chế rất cụ thể. Nếu như nghiên cứu vĩ mô chỉ dừng lại ở chỗ phát hiện ra các vấn đề tác động đến các chỉ tiêu chung của nền kinh tế và những định hướng về mặt cơ chế và chính sách trong việc điều chỉnh các yếu tố đó, thì nghiên cứu ở góc độ vi mô là phải đưa ra được các cơ chế và chính sách cụ thể hơn để điều chỉnh từng hành vi và các mối quan hệ xã hội phát sinh khi triển khai thực thi các vấn đề trong lĩnh vực kinh tế hoặc xã hội (nghiên cứu vi mô tức là triển khai những ý tưởng ở tầm vĩ mô). Có như vậy thì việc nghiên cứu vĩ mô và vi mô mới có mối liên hệ mật thiết với nhau. Như vậy, việc nghiên cứu các vấn đề trong lĩnh vực kinh tế hoặc xã hội có sự kết hợp giữa vi mô và vĩ mô là một quá trình nghiên cứu toàn diện và có hệ thống. Chính điều này sẽ tạo nên hiệu ứng liên hoàn, có thể đạt được các chỉ tiêu phát triển kinh tế và xã hội đã đề ra.

 

Bên cạnh đó, công tác tổ chức bộ máy quản lý Nhà nước cũng cần được nghiên cứu hoàn thiện, bởi vì có hoàn thiện bộ máy quản lý Nhà nước thì việc thực thi các chính sách của Nhà nước mới đạt hiệu quả cao. 

Ví dụ khi nghiên cứu lĩnh vực đầu tư; cần hình thành các câu hỏi liên quan đến lĩnh vực đầu tư:

 

Chiến lược đầu tư?

-                     Ngành nghề, lĩnh vực, khu vực (trong và ngoài nước) đầu tư cần tăng cường đầu tư (cơ cấu đầu tư)

-                     Phạm vi, qui mô đầu tư.

 

Tác động của chiến lược đầu tư?

-                     Đánh giá tác động của việc tăng cường đầu tư vào một ngành đến các ngành còn lại trong nền kinh tế (chẳng hạn như: hiệu ứng đầu tư vào cơ sở hạ tầng tác động đến sự phát triển của các ngành khác),…

-                    Mối quan hệ về đầu tư giữa các ngành kinh tế và đầu tư vào các ngành xã hội để đảm bảo việc phát triển bền vững.

 

Nguồn vốn đầu tư cho nền kinh tế?

-                     Các kênh huy động vốn cho nền kinh tế; hoàn thiện các kênh huy động vốn đầu tư cho các loại hình doanh nghiệp (hoàn thiện thị trường tài chính, những định chế tài chính, hệ thống ngân hàng,…).

-                     Cơ chế, chính sách thu hút nguồn vốn trong nước và ngoài nước phục vụ đầu tư phát triển (chính sách thu hút đầu tư nước ngoài, khuyến khích đầu tư trong nước,…).

-                    Các nhân tố ảnh hưởng đến việc tiếp cận các nguồn vốn vay đối với doanh nghiệp.

 

Tổ chức bộ máy quản lý nhà nước?

Tổ chức bộ máy quản lý nhà nước trong lĩnh vực đầu tư xây dựng.

b2/ Lựa chọn các vấn đề giải quyết mang tính thời sự nhất: sự lựa chọn này đòi hỏi có một sự tiên liệu hợp lý theo diễn biến của tình hình kinh tế – xã hội hiện tại và những diễn biến sắp tới có thể xẩy ra. Muốn vậy, cần phải có sự tư duy cao và kinh nghiệm làm việc của các cán bộ nghiên cứu.

b3/ Hình thành chương trình nghiên cứu: đúc để hình thành các đề tài nghiên cứu theo 2 hướng chính: từ vấn đề nhỏ nhất đến vấn đề lớn hơn và tổng hợp hơn; hoặc từ những vấn đề lớn sau đó chẻ từng mảng nhỏ.

 

Có hai cách lựa chọn:

- Nếu chọn điểm xuất phát nghiên cứu là những vấn đề nhỏ thì đây là các vấn đề nghiên cứu mang tính ngắn hạn (dưới 1 năm).

- Ngược lại, nếu vấn đề nghiên cứu được đặt ra lớn hơn (ví dụ như mảng đầu tư) thì đây là vấn đề mang tính dài hạn. Đề tài nghiên cứu dạng này được triển khai bằng cách chia nhỏ ra thành nhiều (đề tài nhánh); sau khi hoàn chỉnh thì tổng hợp lại thành một vấn đề hoàn chỉnh (dạng này phù hợp với hướng nghiên cứu dài hạn và mang tính hệ thống cao hơn – có thể căn cứ theo kỳ hạn của Đại hội Đảng bộ thành phố làm mốc để xác định giai đoạn nghiên cứu của đề tài, bởi vì mục tiêu phát triển kinh tế và xã hội từng giai đoạn có sự điều chỉnh).

 

III. ĐIỀU KIỆN THỰC HIỆN

- Chức năng nghiên cứu của mỗi phòng là khác nhau, do đó, khi nghiên cứu một vấn đề nào đó cần phải có sự gắn kết với nhau giữa các bộ phận. Mối liên hệ ở đây thể hiện việc cung cấp các số liệu cũng như tư liệu có liên quan đến các vấn đề nghiên cứu thông qua Trung tâm Thông tin. Các thông tin này được đưa lên mạng nội bộ của cơ quan; thông tin liên quan đến tình hình triển khai thực hiện nhiệm vụ của các Sở – Ban, Ngành (báo cáo tổng kết việc triển khai thực hiện công tác quản lý Nhà nước của các Sở, Ban – ngành, Quận – Huyện cần được lưu tại thư viện.

- Để giúp cho quá trình tư duy nhận diện vấn đề nghiên cứu và công tác nghiên cứu về sau, thiết nghĩ  cán bộ nghiên cứu cần nắm bắt được thông tin không chỉ trong phạm vi Thành phố mà còn phải nắm bắt được các thông tin từ các địa phương khác trong cả nước và những thông tin của các nước trên thế giới.

- Công tác trao đổi học thuật trong Viện vẫn chưa được triển khai một cách đúng mức; thiết nghĩ, việc này cần được triển khai 2 tháng một lần hoặc một quý một lần. Ở mỗi lần, từng phòng lần lượt luân phiên nêu vấn đề và gợi ý nội dung cần thảo luận. Việc làm này giúp cho cán bộ nghiên cứu bổ sung được những kiến thức trong nhiều lĩnh vực khác nhau, đồng thời nâng cao được khả năng nhận diện và giải quyết các vấn đề nghiên cứu.

Trên đây là một số ý kiến mang tính xây dựng, xin được tham gia cùng hội thảo, góp phần vào việc định hướng công tác nghiên cứu của Viện trong thời gian tới.

 

TS.TRẦN ANH TUẤN

 

(6587 Lượt xem)

CÁC TIN BÀI KHÁC:
Ngôn ngữ Ngôn ngữ
English (United States) Tiếng Việt (Việt Nam)
HOẠT ĐỘNG NGHIÊN CỨU KHOA HỌC HOẠT ĐỘNG NGHIÊN CỨU KHOA HỌC
Tin hoạt động khoa học tháng 5 năm 2020 (1/6/2020)

Tin hoạt động khoa học tháng 4 năm 2020 (5/5/2020)

Tin hoạt động khoa học tháng 3 năm 2020 (3/4/2020)


Liên kết Web Liên kết Web
Số lượt truy cập Số lượt truy cập
21119673